Kẻ Phụng Sự Thầm Lặng

Chương 8

Docsach24.com

ảy giờ 2 phút sáng ngày thứ sáu

Chuông điện thoại đánh thức anh dậy. Giống như tất cả điện thoại ở các căn hộ an toàn của Văn phòng, nó có đèn chớp để báo hiệu có cuộc gọi. Chiếc điện thoại này có ánh đèn xanh loé sáng. Y như là có chiếc xe cảnh sát lặng lẽ chạy vào giường anh vậy.

Ari Shamron hỏi. “Cậu tỉnh chưa?”.

“Tỉnh rồi”.

“Đang ngủ à?”.

Gabriel hé mắt nhìn đồng hồ đeo tay. “Mới 7 giờ sáng mà”.

“Ở đây đã là 9 giờ”.

Những thay đổi về múi giờ quốc tế lúc nào cũng ít có ý nghĩa đối với Shamron. Ông cho rằng mỗi nhân viên của Văn phòng, cho dù đang ở đâu trên thế giới, đều phải thức dậy và ngủ cùng múi giờ với ông. Mọi người ở Văn phòng, hay nói đùa là “Múi giờ Trung tâm Shamron”.

“Cuộc gặp của cậu với Graham Seymour thế nào rồi?”.

“Hãy nhắc tôi là đừng bao giờ sử dụng hộ chiếu Heinrich Kiever để vào nước Anh một lần nữa”.

“Thế ông ấy có hành động theo những thông tin cậu cung cấp không?”.

“Hình như là ông ấy có nhiều vụ còn đau đầu hơn là vụ về những chàng trai từ Tây Amsterdam”.

“Chắc chắn rồi”.

“Đến một lúc nào đó chúng ta sẽ phải đưa người Hà Lan vào vụ này”.

“Ngay khi Eli lọc xong tài liệu của Rosner, chúng ta sẽ triệu tập sĩ quan liên lạc Hà Lan ở Tel Aviv và nói vài lời kín đáo với ông ấy”.

“Làm như vậy để bảo đảm chúng ta có thể bảo vệ cho nguồn tin của mình. Ông ấy giống như một cái ô mà chúng ta nên cất vào tủ để phòng cho một ngày mưa”.

“Đừng lo, đó sẽ là cuộc nói chuyện rất kín đáo”.

“Máy bay của tôi đến Amsterdam vào đầu giờ chiều. Nếu Eli và tôi làm việc suốt đêm đến sáng chúng tôi sẽ làm xong”.

“Tôi e là Eli sẽ phải hoàn thành xong công việc mà không có cậu. Cậu sẽ không quay lại Amsterdam.”

“Vậy tôi sẽ đi đâu?”

“Về nhà”, Shamron nói. “Một bodelin sẽ đón cậu trong một tiếng nữa rồi đưa cậu ra sân bay Heathrow. Và đừng bước xuống máy bay giống như con mèo bị què chân, mà hãy thể hiện thật bình thường. Tối nay chúng ta sẽ ăn tối ở đường Kaplan”.

Đường Kaplan là địa chỉ của Văn phòng Thủ tướng.

“Tại sao chúng ta ăn tối với nhau ở đó vậy?”

“Tôi sẽ không bàn về những vấn đề nhà nước và tình báo có tính quan trọng cao nhất trong khi những tay nghe lén của MI5 và GCHQ(1)(Cơ quan an ninh quốc gia của Anh) đang cố gắng nghe”

“Đây là điện thoại an toàn mà”.

Shamron nói. “Không có chuyện đó đâu. Phải bảo đảm cậu có mặt trên chuyến bay đó. Nếu bị kẹt xe, hãy gọi cho tôi khi ngồi trong xe. Tôi sẽ yêu cầu El Al giữ chỗ cho cậu”.

“Không có đâu”.

Đường dây im bặt. Gabriel đặt ống nghe trở lại vào máy. Chúng ta sẽ ăn tối cùng nhau ở đường Kaplan. Anh cho rằng mình biết chủ đề cuộc trò chuyện sẽ là gì. Rõ ràng Amos không có nhiều thời gian tồn tại. Anh nhìn vào màn hình tivi. Ba thiếu nữ ăn ảnh đang tập trung vào một cuộc bàn luận rất nghiêm túc về những trò hề về giới tính của chàng cầu thủ bóng đá nổi tiếng nhất nước Anh. Gabriel mò mẫm tìm cái điều khiển từ xa, nhưng thay vào đó anh lại thấy tập hồ sơ của Samir. Rồi anh nhớ mình đã thức đến nửa đêm nhìn vào hình ảnh – không phải rừng thông và đụn cát mà là những đường kẻ chéo qua lại.

Anh nhìn nó lần nữa. Gabriel được trời phú cho giác quan thứ sáu gần như tuyệt hảo, một kỹ năng được huấn luyện bởi việc nghiên cứu lịch sử nghệ thuật và công việc làm nhà phục chế nghệ thuật của mình. Anh đã có hàng trăm ngàn bức tranh lưu trữ trong những ngăn hồ sơ ký ức và có thể xác nhận một tác phẩm chỉ bằng cách xem xét vài nét cọ. Anh tin tưởng những đường kẻ này không phải là ngẫu nhiên mà là một phần của một bức tranh toàn cảnh và anh tin chắc là trước đây mình đã gặp bức tranh này ở đâu rồi.

Anh bước vào nhà bếp pha chút cà phê, rồi cầm chiếc tách ra đứng bên cửa sổ. Bầu trời bắt đầu sáng dần lên, giao thông vào buổi sáng của Luân Đôn đang vào giờ cao điểm. Một phụ nữ trông rất giống vợ cũ của anh đang đứng ở góc đường để chờ đèn giao thông. Khi đèn đổi màu, cô băng qua đường Bayswater rồi biến mất vào công viên Hyde Park.

Hyde Park…

Anh nhìn vào tập hồ sơ rồi nhìn ra cửa sổ.

Có thể nào?

Anh bước đến bàn mở ngăn kéo trên cùng. Bên trong là bản đồ Luân Đôn từ A-Z. Anh lấy bản đồ ra mở đến số 82. Đó chính là góc đông bắc của Hyde Park và những con phố xung quanh Mayfair, Marylebone, Bayswater và phố John’ Wood.

Những con đường trong công viên được thể hiện bằng những đường chấm. Gabriel so sánh hình mẫu với những chi tiết trên tập hồ sơ của Samir.

Chúng giống nhau hoàn toàn.

Hyde Park…

Nhưng tại sao một tên khủng bố lại muốn tấn công công viên này?

Anh nghĩ đến những tấm hình tìm thấy trong căn hộ của Samir. Samir ở quãng trường Trafagar. Samir với một thành viên đội vệ binh Nữ hoàng bên ngoài Điện Buckingham. Samir cưỡi xe Thiên niên kỷ. Samir bên ngoài toà nhà Quốc hội. Samir chụp với bốn người bạn trước Đại sứ quán Mỹ ở quãng trường Grosvenor…

Anh nhìn vào bản đồ Luân Đôn từ A-Z lần nữa.

Quãng trường Grosvenor chỉ cách hai khối nhà phía đông công viên ở đường Mayfair.

Anh nhắc điện thoại lên quay số.

“Graham Seymour. Tôi muốn ông báo động cho người Mỹ về nhóm phần tử từ Amsterdam”.

“Nhóm Amsterdam nào?”.

“Thôi nào, Graham – không có nhiều thời gian đâu”.

“Bên nhập cảnh đã mất cả đêm tìm chúng. Đến giờ họ không có bằng chứng gì cho thấy có người nào trong số những cái tên mà anh đưa cho tôi hiện đang có mặt ở đất nước này”.

“Điều đó không có nghĩa là chúng không có mặt ở đây”.

“Tại sao anh lại cho là chúng định gây chuyện với người Mỹ?”.

Gabriel kể cho Graham nghe những suy đoán của mình.

“Anh muốn tôi báo động cho quảng trường Grosvenor vì vài đường kẻ trên tập hồ sơ sao?”.

“Đúng vậy”.

“Tôi sẽ không làm thế đau. Không có đủ bằng chứng để chứng minh cho một sự báo động như thế. Ngoài ra, dạo này anh có đến quãng trường Grosvenor chưa? Hiện nó đã là một pháo đài của Mỹ. Khủng bố không thể đến gần toà nhà đó”.

“Hãy gọi cho họ đi, Graham. Nếu ông không gọi, tôi sẽ gọi”.

“Nghe này Allon, và hãy nghe cho rõ. Nếu anh làm cho thành phố của tôi rối tung lên, xin Chúa hãy cứu giúp, tôi sẽ…”.

Gabriel ngắt cuộc gọi rồi quay số khác.