Khúc quanh của dòng sông

Chương 10

Indar đã bắt đầu câu chuyện của anh vào cuối buổi tối hôm ở nhà Yvette và Raymond đó.  Sau đó nhiều lần anh kể thêm. Anh đã bắt đầu câu chuyện vào buổi tối đầu tiên tôi gặp Yvette, và mọi nơi tôi gặp Yvette sau đó nàng đều đi với anh. Tôi lạ lùng với cả hai con người đó, tôi không hiểu ra sao nữa.

Trong tâm trí tôi có hình ảnh Yvette của riêng mình, và hình ảnh đó không bao giờ thay đổi. Nhưng con người mà tôi thấy, nhiều lúc trong ngày, trong nhiều dạng ánh sáng và thời tiết khác nhau, trong những hoàn cảnh khác hoàn toàn với những hoàn cảnh tôi đã gặp nàng lần đầu, bao giờ cũng mới mẻ, luôn là một sự bất ngờ. Tôi bồn chồn được thấy mặt nàng – tôi bị nàng ám ảnh.

Và Indar cũng bắt đầu thay đổi với tôi. Cả tính cách riêng biệt của anh cũng có một cái gì đó rã ra. Khi anh kể xong chuyện, trong mắt tôi anh không giống với người đã xuất hiện trong cửa hiệu của tôi nhiều tuần trước. Trong bộ quần áo của anh khi đó tôi đã nhìn thấy sự thiên vị dành cho London. Tôi đã thấy rằng anh đang chiến đấu để giữ lại được phong cách của mình, nhưng tôi không nghĩ phong cách của anh như cái gì đó anh tự tạo ra cho mình. Tôi thấy anh là một người bị hào quang của thế giới vĩ đại tác động đến, và tôi đã nghĩ đó là cơ may cho thế giới của anh, cả tôi, cũng có thể bị tác động bởi ánh hào quang đó. Trong những ngày đó tôi thường muốn nói với anh "Hãy giúp tôi thóat khỏi chốn này. Hãy chỉ cho tôi làm thế nào để giống được như anh".

Nhưng giờ thì không thế nữa rồi. Tôi không thể ghen tị với phong cách hay sự độc đáo của anh nữa. Tôi thấy anh như bản thân anh. Tôi cảm thấy mình được bảo vệ trước anh. Tôi cảm thấy kể từ tối đó tại chỗ Yvette – buổi tối đã nâng tôi lên nhưng lại kéo anh xuống thấp – chúng tôi đã tráo đổi vai. Tôi không còn thấy anh là người hướng lối cho mình, anh là người cần được giúp đỡ.

Đó có thể là điều bí mật của sự thành công về mặt xã hội của anh mà tôi từng ghen tị. Mong muốn của tôi – hẳn là giống với của những người ở London mà anh đã nói với tôi, những người đã tạo chỗ làm cho anh – là loại bỏ hoàn toàn sự nóng nảy và thất vọng, những thứ làm hỏng đi sự êm ái mà tôi biết là có ở đó. Tôi được bảo vệ trước anh và sự độc đáo của anh, cả việc nói quá cũng như sự lừa dối của anh. Tôi muốn tất cả những cái đó không bị tổn thương. Điều làm tôi buồn là trong một thoáng chốc anh phải rời đi, anh phải tiếp tục với những công việc giảng dạy tại nơi khác của mình – một giảng viên, thật không chắc chắn về tương lai của anh trong vai trò đó như anh từng đã làm trong những vai tròn trước của mình.

Những người bạn duy nhất trong thị trấn mà tôi giới thiệu cho anh là Shoba và Mahesh. Họ là những người duy nhất tôi cho là có thể có điều gì đó chung với anh. Nhưng hoá ra không phải. Cả hai bên đều nghi kỵ nhau. Cả ba người theo nhiều cách – nổi loạn, liên quan đến vẻ đẹp hình thể của họ, tìm ra vẻ đẹp đó như là dạng thưc dễ dàng nhất của nhân cách. Mỗi người đều thấy người kia như là một phiêu bản của chính mình, và họ giống như những người – Shoba và Mahesh một bên, Indar ở bên kia  - cảm thấy ở bên kia sự giảo trá.

Một hôm tại bữa trưa trong căn hộ của họ - một bữa ăn ngon: họ đã sửa sọan rất kỹ càng, đồ bạc và đồ đồng được đánh bóng, những chiếc rèm kéo xuống che ánh sáng chói loà bên ngoài, ngọn đèn ba bấc chiếu sáng chiếc thảm Ba Tư trên tường – Shoba hỏi Indar "Anh làm việc này có kiếm được tiền không?" Indar nói "Có chứ". Nhưng lúc ra ngoài, trong ánh nắng và bụi đỏ, anh trở nên tức giận. Khi chúng tôi lái xe trở về Khu, về nhà anh, anh nói "Các bạn của anh không biết tôi là ai và tôi đã làm gì. Họ thậm chí còn chẳng biết tôi từ đâu đến". Anh không nhắc đến những chuyến đi của mình, anh muốn nói họ đã không đánh giá cao những cuộc tranh đấu mà anh đã từng trải qua. "Hãy nói với họ, giá trị của tôi là giá trị vị trí của chính tôi. Không có lý do khác để có thể kiếm được năm mươi nghìn đô la hay một trăm nghìn đô la một năm".

Đó là tâm trạng của anh khi sắp đi khỏi Khu. Anh dễ nổi nóng và thất vọng. Nhưng với tôi, thậm chí trong những ngày chán nản đó, Khu vẫn là địa điểm đáng trông chờ. Tôi trông chờ lặp lại buổi tối mà tôi đã từng có – tiếng hát Joan Baez, những ngọn đèn mờ ảo và những chiếc đệm châu Phi trên sàn nhà, người đàn bà bối rối trong bộ đồ chùng màu đen, cuộc đi bộ đến ghềnh nước dưới ánh trăng và những đám mây. Tôi bắt đầu cảm thấy phấn khích. Tôi giữ bí mật không nói với Indar. Và Yvette, mỗi khi thấy nàng, trong ánh sáng điện mờ ảo hoặc trong ánh sáng ban ngày tầm thường, lại làm tôi bối rối, thật khác với những gì tôi còn nhớ.

Ngày nối ngày qua đi, học kỳ của trường bách khoa đã hết. Indar đột ngột tạm biệt vào một buổi chiều, như một người không muốn gây náo loạn nhiều về lời tạm biệt, anh không muốn tôi tiễn anh. Và tôi cảm thấy rằng Khu và cuộc sống ở đây, đã vĩnh viễn khép lại trước tôi.

Ferdinand cũng đi. Nó lên thủ đô theo khóa tập huấn công chức nhà nước. Tôi tiễn Ferdinand ra tàu thuỷ vào cuối học kỳ. Những bông lan dạ hương trên sông đang trôi nổi trong những ngày nổi loạn, người ta nói chúng thấm máu, vào những buổi chiều nặng nề, ngột ngạt với cái nóng lấp lóa nắng, chúng không có mùi, vào lúc có trăng những bông hoa này có màu trắng, chúng rất hợp với tâm trạng một buổi tối đặc biệt. Giờ đây màu tim hoa cà trên màu xanh lá cây đậm, chúng nói về điều gì đó đã qua, những người khác đang tới.

 

Tàu thuỷ đến vào buổi chiều hôm trước, kéo theo chiếc thuyền chở khách. Tôi không thấy Zabeth và chiếc thuyền độc mộc của cô. Ferdinand không muốn cô đến đây. Tôi đã nói với Zabeth đó chỉ là vì Ferdinand đang ở tuổi muốn chứng tỏ mình độc lập. Và điều này rất đúng xét theo khía cạnh nào đó. Chuyến đi đến thủ đô là rất quan trọng với Ferdinand, và vì nó quan trọng, Ferdinand muốn được tự làm một mình, không có mẹ.

Nó luôn tự coi mình quan trọng như thế. Nhưng ở nó đã phát triển một cung cách mới đáng ngạc nhiên. Từ chiếc thuyền độc mộc lên khoang hạng nhất tàu thuỷ, từ một ngôi làng đến trường bách khoa và cuộc thi công chức, nó đã nhảy qua hàng thế kỷ. Chuyến đi của nó không hề dễ dàng, hồi cuộc nổi loạn nó muốn chạy trốn. Nhưng kể từ đó nó đã học được cách chấp nhận mọi khía cạnh của chính nó và mọi khía cạnh của đất nước, nó không vứt bỏ gì đi hết. Nó chỉ biết đất nước nó và cái đất nước cho nó, và toàn bộ những gì đât nước này cho nó giờ đây nó đều muốn đền đáp. Điều này giống như một sự cao ngạo, nhưng đó cũng là một dạng nhẹ nhàng và chấp nhận. Nó đang ở nhà, nó chấp nhận toàn bộ tình thế, và nó là chính nó ở mọi nơi.

Đó là điều nó thể hiện sáng đó khi tôi chở nó từ Khu ra bến tàu. Sự thay đổi từ Khu được những nhà cửa xập xệ bên ngoài – với những cánh đồng thưa thớt trồng ngô, những dòng suối nhỏ đầy rác và hàng chồng rác – tất cả ấn tượng mạnh lên tôi hơn là lên nó. Tôi muốn cùng với nó nghĩ về niềm tự hào ccn để không để ý gì đến chúng, nó nói về chúng, không có ý phê phán mà xem chúng là một phần của thị trấn. Tại Khu, khi từ biệt những người quen, nó đã cư xử như một cậu học việc công chức, với tôi trong xe nó giống như với một người bạn cũ, và rồi bên ngoài những cánh cửa cầu tàu, nó trở nên vui sướng một cách dễ hiểu, và kiên nhẫn, hoà vào đám đông châu Phi, trong sự hối hả của phiên chợ.

Miscerique probat populos et foedera jungi. Đã từ lâu tôi thôi không còn để ý tới sự rực rỡ của những từ này nữa. Toà nhà chỉ trở thành một phần của cảnh chợ vào những ngày có tàu. Qua đám đông đó giờ đây chúng tôi bắt đầu con đường của mình, với một ông già đi theo, người yếu ớt nhất trong số chúng tôi, người xách va li cho Ferdinand.

Những chậu ấu trùng và sâu; những giỏ chứa đầy gà bị trói chặt kêu quang quác khi bị người bán hàng xách một cái cánh lên cho người khách xem; những con dê mắt u tối trụi thùi lụi, nằm ngổn ngang trên mặt đất, nhai rác và giấy, những con khỉ non lông ẩm ướt, đầy vẻ khổ cực, bị buộc dây dây dắt chặt quanh những cái eo lưng gầy guộc và gặm lạc, vỏ chuối, vỏ xoài, nhưng nhai mà không có vẻ gì ngon lành, như thể chúng biết mình sắp bị giết thịt.

Những người khách thoáng qua đầy nóng vội đến từ vùng cây  bụi, những người khách tới bằng xuồng, đi từ một ngôi làng xa xôi đến một ngôi làng khác, được gia đình hoặc bạn bè đưa tiễn, những người bán hàng có cửa hàng ngồi tại cửa hàng của mình (hai hoặc ba cái dưới chân toà nhà) với những chỗ ngồi bằng thùng, đã nấu ăn, với chai lọ nồi niêu, nến, trẻ con, những người què quặt trây ì và những kẻ ăn cắp. Và các quan chức.

Ngày nay còn có nhiều quan chức hơn, và ở đây phần lớn trong số họ có vẻ rất năng nổ vào những ngày có tàu thuỷ. Không phải tất cả họ đều mặc đồng phục cảnh sát, và không phải tất cả họ đều là đàn ông. Nhân danh người mẹ đã chết của mình, người phục vụ khách sạn, "người đàn bà Phi châu", như ông thường gọi trong những bài diễn văn của mình, Tổng thống  quyết định phải vinh danh càng nhiều phụ nữ càng tốt, và ông đã làm thế bằng cách biến họ thành nô bộc của chính phủ, không phải lúc nào cũng với những nhiệm vụ rõ ràng.

Ferdinand, tôi và người xách đồ tạo thành một nhóm khá là đáng chú ý (fe cao hơn nhiều so với người trong Khu), và chúng tôi bị chặn lại chừng sáu bảy lần bởi những người muốn xem giấy tờ của chúng tôi. Một lần chúng tôi bị một người đàn bà bận đồ vải bông theo kiểu châu Phi chặn lại. Cô ta nhỏ như những chị em của mình, những người chèo xuồng độc mộc trong những kinh rạch của làng, và xấu xí, tận tuỵ, cái đầu của cô ta không có tóc và trông như hói, nhưng khuôn mặt cô tròn trĩnh. Cô nói xẵng giọng với chúng tôi. Cô cầm ngược các vé tàu của Ferdinand (một là vé lên tàu, một là phiếu ăn) khi kiểm tra, cô nhăn mặt.

Khuôn mặt Ferdinand không biểu lộ điều gì. Khi cô ta trả lại cho nó vé, nó nói "Cám ơn, citoyenne" Nó nói không hề có vẻ mỉa mai, cái nhăn của người phụ nữ biến thành một nụ cười. Và điều này dường như là điểm mấu chốt của việc kiểm tra – người đàn bà muốn được kính trọng và được gọi là citoyenne. Monsieur, madame và boy đã trở thành lỗi thời quá rồi. Tổng thống đã tuyên bố tất cả chúng tôi là citoyen và citoyenne. Ông sử dụng hai từ cùng với nhau trong những bài diễn văn của mình, lặp đi lặp lại như những nốt nhạc vậy.

Chúng tôi đi xuyên qua đám đông người đang chờ đợi – người ta nhường chỗ cho chúng tôi, đơn giản vì chúng tôi đang di chuyển – cho đến cầu tàu. Và tại đó người xách đồ của chúng tôi, như thể biết cần phải làm gì, đặt đồ xuống, đòi rất nhiều tiền, nhanh chóng bớt giá và chuồn mất. Những cái cửa, chẳng hiểu vì sao, lại đóng trước chúng tôi. Những người lính nhìn chúng tôi rồi khóa lại, không cho chúng tôi đi qua. Chúng tôi đứng trong đám đông đó nửa giờ hoặc hơn, dựa vào cửa, trong ánh nắng chói chang, trong mùi kẹo và đồ ăn hun khói, và rồi, chẳng có lý do nào rõ rệt, một người lính mở cửa cho chúng tôi vào, nhưng chỉ có chúng tôi chứ không phải bất kỳ ai đứng sau, như thể dù cho có những cái vé của Ferdinand và vé vào cửa của tôi, anh ta làm thế chẳng qua là để chiếu cố chúng tôi.

Tàu thuỷ vẫn đậu, mũi hướng về ghềnh nước. Phần cao màu trắng với những khoang hạng nhất – cái duy nhất nhìn thấy được phía trên mái nhà của khu hải quan, là phần đuôi tàu. Trên cái boong nền kim loại ở dưới, chỉ cách mặt nước vài feet, một hàng rào bằng sắt giống như của trại lính chạy xuống phía vòng cung dưới. những khoang tàu kim loại dành cho hành khách kém tiền hơn. Hạng thấp nhất được xếp trên cái thuyền nhỏ - những dãy lồng chim trên một đống vỏ sắt, những cái lồng lưới sắt và rào kính, lưới và cửa sắt dày hai lớp, kết cấu bên trong lồng bị giấu kín, bị mất đi trong sự mờ tối, dù có ánh mặt trời và sự lấp lánh của dòng sông.

Các khoang hạng nhất vẫn sang trọng. Những bức tường sắt màu trắng, những cái boong dán nhãn được lau chùi và đánh  bóng. Tất cả cửa đều mở, có rèm. Có người hầu và thậm chí cả một người phụ trách.

Tôi nói với Ferdinand "Chú nghĩ những người ở dưới sẽ đến hỏi cháu chứng nhận công dân đấy. Ngày xưa phải có cái đó người ta mới cho cháu lên đây".

Nó không cười, như người già dặn thường làm. Nó không biết gì về quá khứ thuộc địa. Ký ức của nó về cái thế giới rộng lớn hơn này bắt đầu bằng cái ngày huyền bí khi những người lính què cụt, những người nước ngoài, đã đến làng mẹ nó tìm những người da trắng để giết, và Zabeth đã làm tất cả họ sợ và chỉ dám mang theo vài người đàn bà của làng.

Với Ferdinand quá khứ thuộc địa đã tan biến. Tàu thuỷ vẫn luôn là châu Phi, và hạng nhất trên tàu là cái giờ đây có thể thấy. Những người châu Phi ăn mặc lịch sự, người nhiều tuổi hơn mặc đồ lễ, những người thuộc thế hệ mới đã tiến hoá, một số phụ nữ đi cùng gia đình, tất cả đều ăn mặc theo kiểu đi xa, một hoặc hai bà trong những gia đình đó, gần gũi hơn với những con đường rừng, đã ngồi trên sàn  cabin của mình chuẩn bị bữa trưa, mở những hộp cá hun khói và khỉ hun khói cho vào những cà mèn sặc sỡ nhiều màu, mùi rất đậm, rất mặn.

Những cách cư xử quê kệch, lối làm ăn ở rừng, trong một khung cảnh không phải rừng. Nhưng đó chính là cách, tại các vùng đất tổ tiên của chúng ta, chúng ta đã bắt đầu – cái đệm của người cầu nguyện trên cát, rồi sàn đá của một nhà thờ Hồi giáo, những nghi thức và cấm kỵ của những người du mục đã được mang đến lâu đài của vị sultan hoặc maharaja, trở thành truyền thống của giới quý tộc.

Tôi vẫn thấy chuyến đi này thật là khó nhọc, nhất là khi, giống như Ferdinand, tôi phải chia sẻ cabin với một người khác, một người đang đứng trong đám đông ngoài kia vẫn chưa vào được đến nơi. Nhưng với tôi tàu thuỷ không có nghĩa gì cả - dù biểu tượng thời thực dân được thêu màu đỏ trên nền sọc, những mảnh chăn và gối được giặt là cẩn thận trên giường của Ferdinand – với những người ngày xưa từng hỏi giấy chứng nhận công dân, chẳng vì lý do gì cả. Tàu thuỷ giờ đây có nghĩa với những người sử dụng nó và với họ nó rất vĩ đại. những người ở cùng boong với Ferdinand biết rằng họ không phải hành khách trên một con thuyền nhỏ.

Từ đàng sau cầu tàu, nhìn về phía những cái thuyền cứu nạn, chúng tôi có thể thấy nhiều người đang lên thuyền với hòm xiểng và các thứ gói của mình. Phía trên mái nhà của hải quan bên ngoài thị trấn có rất nhiều cây và cây bụi – thị trấn mà khi chúng tôi ở đây, có đầy những phố phường và các khoảng không gian mở cùng mặt trời và các toà nhà. Không nhiều nhà cửa có thể nhìn thấy được qua cây cối và không cái nào nổi lên trên chúng. Và từ độ cao trên boong trên bạn có thể thấy – theo màu sắc cây cối, sự khác biệt giữa các loại cây nhập ngoại với cây bụi – thị trấn mới nhỏ bé làm sao, chật chội làm sao bên bờ sông. Nhìn theo hướng khác, qua dòng sông đầy bùn lầy đến mức dưới của cây bụi và sự trống trơn của bờ bên kia, bạn có thể cho rằng thị trấn chưa hề tồn tại. Và vậy là con thuyền nhỏ trên dòng sông này giống như một điều kỳ diệu, và những khoang hành khách hạng nhất quả là một thứ xa xỉ không thể có.

Cả ở cuối boong tàu này này cũng có gì đó thật ấn tượng – một cabine de luxe. Những tấm bảng kim loại dà cũ, ố bạc trên cửa nói lên điều đó. Hai ca bin đó giờ chứa gì? Ferdinand nói "Chúng ta ngó một cái nhé?" Chúng tôi đi vào trong căn phòng ở đàng sau. Trong đó tối và rất nóng, cửa sổ đều bị bịt kín cả lại. Một phòng tắm bằng gạch nung, hai ghế bành, một cái bàn với hai chiếc ghế rệu rã, hai chân nến trống trơn, những bức rèm rách rưới ngăn những cái giường với phần còn lại của khoang, và một máy điều hoà nhiệt độ. Ai, trong đám đông bên ngoài có cái y tưởng kỳ cục là cần thiết những thứ thế này? Ai có thể yêu cầu sự riêng tư, những tiện nghi nhiều đến thế này?

Từ một góc xa của boong tàu vẳng lại tiếng cãi cọ. Một người đàn ông đang phàn nàn rất lớn giọng, và nói bằng tiếng Anh.

Ferdinand nói "Cháu nghĩ cháu đang nghe thấy giọng bạn chú".

Đó là Indar. Anh mang rất nhiều đồ, anh đang toát mô hôi và tức điên. Hai tay chìa ra thẳng tắp – giống như hai càng của cái máy nâng – anh đang khệ nệ bưng một cái hộp nông nhưng rất lớn, mở ra ở trên, mà anh không thể thoát nợ được. Cái hộp rất nặng. Nó đầy đồ rau cỏ và chai lọ, mười hoặc mười hai cái chai, và sau khi đi bộ khác lâu từ cầu tàu và đi lên những bậc thang tàu thuỷ, Indar có vẻ như đã kiệt sức và đang sắp phát khóc.

Với một bước chúi lên trước anh ngả vào cabine de luxe và quẳng toẹt cái thùng lên sàn. Anh tỏ ra cực kỳ mệt mỏi, giậm chân than thở về chỗ của mình và vung vẩy hai tay rất dữ, như thể muốn lấy lại sức lực bằng cách ấy.

Anh đã làm quá, nhưng anh có khán giả. Không phải tôi, người mà anh đã nhìn thấy nhưng làm ra vẻ không nhận ra. Yvette ở sau anh. Nàng xách va li. Anh hét lên với nàng, bằng thứ tiếng Anh rất chuẩn của mình "Cái vali, đứa chó chết nào cầm rồi?" Nàng trông thật mệt mỏi và chán chường, nhưngnàng vẫn nói rất nhỏ nhẹ "Vâng, vâng", và một người đàn ông mặc quần áo hoa mà tôi tưởng là hành khách đang xách cái vali.

Tôi đã nhìn thấy Indar và Yvette cùng với nhau nhiều lần, nhưng chưa bao giờ trong mối quan hệ thân tình người nhà thế này. Vào một thời điểm không thích hợp ý nghĩ họ sắp sửa bỏ đi đến với tôi. Nhưng rồi Yvette, đứng thẳng lên, và nhớ ra phải mỉm cười, nàng nói với tôi "Anh cũng đi tiễn ai đó à?" và tôi hiểu sự lo lắng của mình đúng là điên rồ.

Indar giờ đã thả lỏng gân  cốt. Mọi điều anh dự định lúc này với Yvette đã bị tiêutan bởi sự lo lắng cho cái hộp.

Anh nói "Họ không có cái chở đồ.  Họ không có cái quái quỷ đó".

Tôi nói "Tôi nghĩ anh đi máy bay cơ".

"Hôm qua chúng tôi đã đợi hàng giờ ở sân bay. Không có máy bay. Đến nửa đêm họ đưa chúng tôi một cốc bia và nói là máy bay không hoạt động. Thế đấy. Không phải là hoãn chuyến bay. Người Đàn Ông Vĩ Đại muốn vậy. Không ai biết khi nào ông ấy mới cho máy bay hoạt động lại. Và đi mua vé tàu thuỷ - anh có phải làm việc đó không? Đủ mọi thứ quy tắc thủ tục. Chẳng có ai ở đó cả. Cái cửa chó chết lúc nào cũng khoá. Và cứ năm yard lại có một người đến hỏi giấy tờ. Ferdinand, hãy giải thích cho tôi điều đó đi nào. Rồi thằng cha tăng giá, mọi thứ phụ thêm vào, hắn ta tính tổng cộng cao hơn hai mươi lần. Cũng số lượng đó, hơn hai mươi lần, tại sao? Hắn có nghĩ cái máy sẽ đổi ý không? mất phéng nửa giờ. Và rồi, ơn Chúa, Yvette nhắc tôi về đồ ăn. Và nước. Thế là chúng tôi phải đi mua. Sáu chai nước Vichy cho năm ngày. Đó là tất cả những gì họ có – tôi đến châu Phi để uống nước Vichy đấy. một đô la rưỡi một chai, chai Mỹ. Sáu chai rượu vang đỏ, cái thứ rượu Bồ Đào Nha chua loét ở đây đấy. Nếu biết phải vác cái hộp thì tôi đã không mua. 

Anh cũng mang theo năm hộp cá sardine, mỗi ngày một hộp, tôi cho là thế, hai hộp sữa khô, một hộp Nescafé, một phô mai Hà Lan, bánh bích quy và một đống bánh mật của Bỉ.

Anh nói "Bánh mật là theo ý Yvette. Cô ấy nói bổ lắm".

Nàng nói "Giữ được trong trời nóng".

Tôi nói "Có một người ở trường trung học đã từng sống chỉ bằng bánh mật thôi".

Ferdinand nói "Chính vì vậy chúng tôi hun khói mọi thứ lên. Một khi mà không đập vỡ vỏ bánh thì để được lâu lắm".

"Nhưng tình trạng thực phẩm ở nơi này thật là thảm hại" Indar nói. "Mọi thứ trong các cửa hiệu đều là đồ nhập và đắt quá. Và ngoài chợ, ngoài những thứ sâu bọ và những thứ người ta bắt được, chỉ có thể tìm được vài thứ vớ vẩn khác thôi. Rồi thì người ta đổ dồn đến. Làm thế nào để thoát ra đây? Cần có toàn bộ cây bụi này, toàn bộ cơn mưa này. Và rồi có thể có nạn đói trong thị trấn".

Khoang trở nên đông người hơn trước. Một người đàn ông béo lùn đi chân đất đến giới thiệu mình là người phục vụ của cabine de luxe, và theo anh ta là người quản lý tàu, với một cái khăn vắt trên vai và tay cầm khăn trải bàn. Người quản lý đuổi người phục vụ đi, trải khăn bàn lên bàn – một cái khăn cổ thật đáng yêu, nhưng đã bị giặt là đến mòn cả ra. Rồi anh ta nói với Yvette

"Tôi thấy rằng ông đây đã mang theo đồ ăn và đồ uống riêng của mình. Nhưng không cần thế đâu, thưa bà. Chúng tôi vẫn theo những quy định cũ, nước của chúng tôi được lọc kỹ. Bản thân tôi từng làm việc trên những con tàu chở hàng đi biển và từng đến nhiều nước trên thế giới. Giờ thì tôi già rồi và làm việc ở con tàu châu Phi này. Nhưng tôi đã quen với người da trắng và biết cách thức của họ. Ông đây không có gì phải sợ cả, thưa bà. Ông trông có vẻ khá rồi đấy. Tôi sẽ xem xem đồ ăn ccoo đây có được chuẩn bị riêng không, và tôi sẽ tự tay phục vụ ông đây tại khoang".

Ông là một người gầy gò, một người lai đã có tuổi, mẹ hoặc bố ông hẳn là một người lai da trắng và da đen. Ông đã sử dụng một cách cố ý những từ bị cấm – Monsieur, madame. Ông trải khăn bàn. Và ông đứng đợi tiền boa. Indar đưa ông ta hai trăm franc.

Ferdinand nói "Chú cho ông ấy nhiều quá. Ông ấy gọi chú là monsieur và madame, và chú lại đưa tiền. Ngay sau đó sẽ chẳng có gì nữa đâu. Giờ thì ông ấy sẽ không làm gì cho chú nữa đâu".

Có vẻ Ferdinand nói đúng. Khi chúng tôi đi xuống một boong tàu đến quán bar, người quản lý đã có ở đó, đứng dựa lưng vào quầy bar uống bia. Ông ta tảng lờ cả bốn người chúng tôi. Và không chịu làm gì khi chúng tôi hỏi bia và người ở quầy bar nói "Terminé" (Đóng cửa). Nếu người quản lý không uống và nếu một người nào khác với ba người đàn bà ăn bận đẹp đẽ không uống ở đó, thì chúng tôi có thể tin vào điều đó. Quầy bar – với một bức ảnh lồng khung Tổng thống  trong bộ đồ lãnh đạo, tay cầm can có hình cái bùa – đã trống trơn, những  cái giá màu nâu trống không.

Tôi nói với người ở quầy bar "Citoyenó", Ferdinand nói "Citoyen". Chúng tôi đút một ít tiền, và bia được mang ra từ phòng sau.

Indar nói "Cậu sẽ làm hướng dẫn cho tôi, Ferdinand. Cậu sẽ tán họ hộ tôi".

Đã chuyển sang buổi chiều, trời nóng. Quầy bar tràn ngập ánh phản chiếu của dòng sông, những nét vàng nhảy múa. Bia, rất nhẹ, ru ngủ chúng tôi. Indar quên đi những đau đớn, anh khai màn một cuộc tranh luận với Ferdinand về một chủ đề từng được bàn cãi ở Khu, về tương lai quan hệ Trung Quốc và Đài Loan. Sự bồn chồn của tôi cũng đã giảm xuống, tâm trạng của tôi ủê oải, tôi có thể rời tàu thuỷ cùng với Yvette.

Ánh sáng cũng như ánh sáng của tất cả các buổi chiều – mọi thứ đều ngột ngạt, sự chói chang đã bắt đầu, nhưng mới chỉ thấp thóang. Dòng sông ánh lên, dòng nước đầy bùn chuyển thành màu trắng và vàng. Nó đang bận rộn với những con thuyền độc mộc với động cơ lắp ở bên ngoài, vẫn như ngày trước. Những chiếc thuyền độc mộcmang những cái tên kỳ quái về "đơn vị" của mình in trên những chữ to dọc hai bên sườn. Thỉnh thoảng, khi một chiếc xuống đi ngang qua một chỗ rực rỡ ánh sáng, những người ở trên trông đều giống như đang phản chiếu cái ánh sáng đó, khi ấy trông họ như đang ngồi xuống rất chậm, chỉ có vai và đầu, để rồi trong một lúc trông họ như những khuôn mặt hài hước trong một bức tranh biếm hoạ, đang dấn thân vào một chuyến đi kỳ cục.

Một người đàn ông lảo đảo đi vào quầy bar với đôi giày mòn vẹt. Ông hẳn là đến từ thủ đô, cách đi giày đó chưa lan đến chỗ chúng tôi. Ông cũng là một quan chức, đến để kiểm tra vé và giấy tờ của chúng tôi. Không lâu sau ông đã lảo đảo đi, sự sợ hãi xâm chiếm người quản lý và người đứng quầy bar và một số người đang ngồi uống ở bàn. Chính sự sợ hãi này phân biệt thuỷ thủ và quan chức, dù không ai mặc đồng phục hết cả, với những người khác đến và đút tiền để được uống bia, và điều đó chỉ có nghĩa là tàu sắp khởi hành.

Indar đặt tay lên đùi Yvette. Khi nàng quay sang anh nói "Tôi sẽ xem có thể làm gì cho quyển sách  của Raymond. Nhưng cô biết những người ở thủ đô đấy. Nếu họ không trả lời thư, thì có nghĩa là họ không muốn trả lời. Họ không bao giờ nói có hay không đâu. Họ chỉ không nói gì thôi. Nhưng tôi sẽ tìm cách".

Rồi họ ôm hôn nhau trước khi tạm biệt, chỉ là hình thức. Ferdinand lạnh lùng. Không bắt tay, không lời từ  biệt nào. Nó chỉ nói đơn giản "Salim" và với Yvette nói chỉ gật đầu chào chứ không hẳn là cúi chào.

Chúng tôi đứng trên cầu tàu và nhìn. Sau khi khởi động một chút con tàu rời khỏi bức tường cầu tàu. Rồi con thuyền cập vào, và tàu thuỷ và con thuyền quay vòng nhỏ trên sông, con thuyền kéo theo một đống đồ nấu ăn và gà qué.

Sự khởi hành có thể cảm thấy như là một sự hoang vắng, một sự phán xét về địa điểm và những người nó để lại sau. Đó là điều tôi đã quen thuộc từ ngày hôm trước, khi tôi biết mình sắp từ biệt Indar. Với sự quan tâm của mình với anh, tôi nghĩ anh – như từng nghĩ về Ferdinand – là một người may mắn, người được đi để có kinh nghiệm rộng lớn hơn, để lại tôi trong cuộc đời nhỏ bé này tại một nơi lại lần nữa không còn ý nghĩa gì hết.

Nhưng giờ đây, đứng cạnh Yvette trên cầu tàu, tôi không nghĩ vậy nữa, sau sự cố và may mắn của lời từ biệt thứ hai này, đứng nhìn con tàu và chiếc thuyền đang đi thẳng vào dòng sông màu nâu, đi về phía bờ bên kia trống không, tái nhợt đi trong sự nóng nực và là một phần của bầu trời màu trắng. Nơi này đã tiếp tục sau đó, như chúng tôi từng thế trước đây, tại thị trấn trên dòng sông mà Indar là người đã bị gửi đi. Anh sẽ có một chuyến đi rất khó nhọc.