Khúc quanh của dòng sông

Chương 7

Phát hiện những cách thức của đau khổm, sự già đi mà nó gây ra, tôi không ngạc nhiên khi thấy Metty và tôi lại gắn bó với nhau đến vậy ngay đúng vào lúc chúng tôi hiểu phải đi mỗi người một đường. Cái đã tạo ra ảo tưởng về sự gắn kết tối đó chỉ là nỗi hoài tiếc quá khứ của chúng tôi, nỗi buồn của chúng tôi vi nỗi thế giới đó không còn nữa.

Cuộc sống chung của chúng tôi không thay đổi. Nó tiếp tục sống ở căn phòng trong nhà tôi, và sáng sáng nó tiếp tục mang cà phê đến cho tôi. Nhưng giờ đây đã được ngầm hiểu là nó có một cbsn hoàn toàn ở bên ngoài. Nó thay đổi. Nó mất đi sự tươi sáng và vui vẻ của một tên gia nhân biết mình đang chăm sóc cái gì, rằng những người khác quyết định cho nó, và nó mất đi cái đi cùng với sự tươi sáng đó – sự thờ ơ với cái vừa diễn ra, khả năng quên, sự sẵn sàng cho mỗi ngày mới. Nó dường như đi sâu vào bản thân mình hơn. Trách nhiệm là một khái niệm mới với nó, và với trách nhiệm nó cũng phải nhận ra sự cô độc, dù nó có bạn bè và gia đình mới.

Cả tôi cũng đã đánh mất đi chuỗi ngày cũ, đã phát hiện nỗi cô độc và nỗi buồn thương là cơ sở của tôn giáo. Tôn giáo biến nỗi buồn thương thành nỗi sợ hãi  và hy vọng tăng dần. Nhưng tôi đã vứt bỏ những cách thức và lễ nghi tôn giáo, tôi không thể quay trở lại với chúng được nữa, chỉ thế thôi. Nồi buồn thương về thế giới này vẫn là cái gì đó tôi phải cho đi kèm với bản thân tôi. Vào lúc nào đó nó thật sắc nhọn, lúc khác nó lại không ở đó.

Và ngay khi tôi nhấm nháp nỗi buồn về Metty và quá khứ này, một ai đó trong quá khứ bỗng hiện lên. Một buổi sáng anh ta đi vào cửa hiệu, Metty dẫn đường cho anh ta. Metty gọi tướng lên, giọng phấn khích "Salim! Salim!"

Đó là Indar, người đầu tiên đã mang đến cho tôi nỗi sợ hãi khi còn ở bờ biển, từng đối diện với tôi – sau trận đấu tại sân squash trong ngôi nhà lớn của anh – với những nỗi sợ của tôi  về tương lai, người đã tiễn tôi khỏi nhà anh với viễn cảnh về thảm hoạ. Anh nói anh đã đi máy bay đến. Anh đã đi Anh, đến trường đại học, và đã bay đến đây.

Và giờ đây tôi cảm thấy, khi Metty dẫn anh đến, và anh ta lại tóm được tôi lần nữa đúng lúc tôi đang ngồi tại bàn trong cửa hiệu, với hàng hóa để ngổn ngang trên sàn nhà, như vẫn thường như vậy, và với những giá đầy những thứ vải và giấy dầu rẻ tiền cùng pin và sách bài tập.

Anh nói "Vài năm trước ở London tôi có nghe nói anh ở đây. Tôi tự hỏi anh đang làm gì". Cách nói của anh lạnh giá, cân bằng giữa sự kích động và chế nhạo, dường như để nói nhẽ ra anh không nên hỏi điều đó vào lúc này, và rằng anh không hề ngạc nhiên về điều anh nhìn thấy ở đây.

Điều này diễn ra nhanh quá. Khi Metty chạy tới nói "Salim! Salim! Đoán xem ai đây này" ngay lập tức tôi đã nghĩ đó có thể là ai đó mà chúng tôi đều quen biết vào những ngày xa xưa đó. Tôi nghĩ đó có thể là Nazruddin, hay một người trong gia đình tôi, một ông anh rể hoặc đứa cháu nào đó. Và tôi đã nghĩ, mình không thể gặp được. Cuộc sống giờ không còn như trước nữa. Tôi không thể nhận trách nhiệm này. Tôi không muốn tiếp đón ai.

Dự tính rằng ai đó sắp trách cứ tôi nhân danh gia đình, cộng đồng và tôn giáo, và chuẩn bị gương mặt và thái độ với người đó, tôi thật bất ngờ khi Metty dẫn Indar vào cửa hiệu. Metty vui vẻ đứng bên anh ta, giờ không giả vờ mà là thực sự thích thú tái tạo cái gì đó thuộc về những ngày xưa cũ, trở thành người nối các gia đình lớn với nhau. Và từ chỗ định tung ra một đống phàn nàn, buồn rầu từ chối người mới đến "Ở đây không đủ chỗ đâu. Không có chỗ cho kẻ không nhà. Tìm chỗ khác đi" – từ chỗ là người như thế, tôi buộc phải quay sang hướng ngược hẳn lại. Tôi phải trở thành người cư xử tốt và còn hơn cả tốt, người mà cửa hiệu xập xệ chẳng giống gì với một vụ buôn bán lớn tạo ra hàng triệu đồng. Tôi buộc phải là người vạch toàn bộ kế hoạch, người phải phá huỷ thị trấn bên khúc quanh dòng so6ng vì đã thấy trước một tương lai giàu có.

Tôi không thể có cách khác với Indar. Anh vẫn luôn làm tôi  cảm thấy mình thật tụt hậu. Gia đình của anh, dù mới tới vùng bờ biển, vẫn luôn vượt xa chúng tôi, và thậm chí sự khởi đầu thấp kém của họ - người ông chỉ là một nhân viên hoả xa, rồi cho vay nặng lãi – đã trở thành (theo như người ta nói) gần như thần thánh, một phần của truyện thần tiên. Họ đầu tư liều lĩnh và tiêu khối tiền, cách sống của họ cao sang hơn chúng tôi, và có một niềm say mê khác thường về các trò chơi và tập luyện thân thể. Tôi luôn nghĩ về họ như là những người "hiện đại", với phong cách sống khá là khác với chúng tôi. Bạn quen với những khác biệt như thế, thậm chí chúng còn bắt đầu có vẻ rất tự nhiên.

Khi chúng tôi chơi squash chiều hôm đó, Indar đã nói với tôi rằng anh sẽ đi Anh để học đại học, tôi không cảm thấy đố kị hay ghen tức với anh vì điều anh sẽ làm. Ra nước ngoài, trường đại học – đó là một phần của phong  cách sống của anh, có thể đoán trước được. Sự chán chường của tôi là sự chán chường của một người bị bỏ lại đằng sau, không được chuẩn bị cho những gì sẽ đến. Và sự đô kỵ của tôi với anh hẳn là có liên quan đến sự bất an mà anh khiến tôi cảm thấy. Anh từng nói "Chúng ta bị lãng phí ở đây, cậu cũng biết mà", Những lời đó là đúng, tôi biết chúng là đúng. Nhưng tôi không muốn anh nói đến nó, anh nói như thể anh là người nhìn được trước tất cả và đã có tất cả trong tầm tay vậy.

Kể từ ngày đó tám năm đã trôi qua. Điều anh nói sẽ xảy ra giờ đã xảy ra. Gia đình anh đã mất mát nhiều, họ đã mất đi ngôi nhà, họ (những người đã thêm tên thị trấn bên bờ biển vào họ của mình) đã phân tán, cũng như gia đình tôi. Giờ đây, khi anh đến cửa hiệu của tôi, dường như khoảng cách giữa chúng tôi vẫn giữ nguyên như vậy.

Có hình dáng London trong quần áo, chiếc áo phông sọc anh mặc, cách anh để tóc, đôi giày của anh (màu máu bò, mảnh nhưng chắc chắn, hơi bó vào ở đầu ngón chân). Và tôi đang ở trong cửa hiệu của mình, với con đường bụi đỏ và quảng trường chợ bên ngoài. Tôi đã đợi lâu lắm, đã chịu đựng lâu lắm, đã thay đổI với anh tôi chẳng hề thay đổi gì hết cả.

Cho đến lúc đó tôi vẫn ngồi. Khi đứng dậy tôi cảm thấy nhói lên nỗi sợ. dường như anh xuất hiện để mang lại tin xấu cho tôi. Và tất cả những gì tôi nói ra được là "Điều gì đã đưa anh đến nơi hẻo lánh này?"

Anh nói "Tôi không thể nói được. Anh vẫn ở đó thôi".

"Thế nào là vẫn ở đó?"

"Nơi những điều lớn lao xảy đến. Dù sao tôi cũng không thể ở đây được."

đó là một sự giảm nhẹ. Chí ít anh cũng không lại ra lệnh cho tôi, không nói cho tôi biết phải đi đâu.

Metty trong lúc đó vẫn cười với Indar và lắc đầu từ bên này sang bên nọ, nói "Indar! Indar!" Và chính Metty là người nhớ ra nhiệm vụ chủ nhà của chúng tôi. Nó nói "Cậu có muốn một tách cà phê không, indar?" Như thể chúng tôi đang từng ở  bờ biển, trong cửa hiệu gia đình, và anh vừa bước xuống đến gian hàng Noor và mang lại vài cái cốc đồng thứ cà phê ngọt và sền sệt trên một cái khay đồng nặng. không đâu  cà phê giống như ở đây: chỉ có Nescafé, sản xuất ở Côte d'Ivoire và được pha trong những chiếc tách sứ. Không cùng cách uống, bạn không thể ngâm nga, luôn cắn phải một mẩu đường.

Indar nói "Tuyệt lắm, Ali ạ."

Tôi nói "Tên của nó ở đây là Metty, nghĩa là con lai".

"Mày để họ gọi vậy sao, Ali?"

"Người châu Phi ấy mà, cậu Indar. Kafar. Cậu biết nghĩa là gì rồi mà".

Tôi nói "Đừng tin nó. Nó thích thế mà. Điều đó làm nó trở nên vĩ đại trong mắt con gái ở đây. Ali giờ đã là người của một gia đình lớn rồi. Nó đã lạc lối rồi".

Metty, đi vào nhà kho để đun nước pha Nescafé, nói "Salim, Salim. Đừng có hạ nhục tôi như thế chứ".

Indar nói "Nó đã lạc đường từ lâu rồi. Anh có nghe tin gì về Nazruddin không? Tôi gặp ông ấy ở Uganda vai` tuần trước".

"Bây giờ ở đó thế nào rồi?"

"Đã ổn trở lại. Không biết là bao lâu. Không một tờ báo chó đẻ nào ủng hộ đức vua. Anh có biết điều đó không? Khi điều đó xảy đến với châu Phi, người dân không muốn biết hoặc họ có những nguyên tắc của mình. Không ai thèm lo gì cho những người sống cùng".

"Anh đi nhiều nơi nhỉ?"

"Đó là công việc của tôi. Ở đây mọi chuyện như thế nào?"

"Khá tốt kể từ cuộc nổi loạn. Đang có bùng nổ kinh tế ở đây. Sự giàu có thật kỳ diệu. Tại đây một số nơi giá đất lên tới hai trăm francs một foot vuông".

Indar có vẻ như không bị ấn tượng – nhưng cửa hiệu không phải một chỗ gây ấn tượng. Tôi cũng cảm thấy thế, tôi đã làm trái ngược với những gì tôi định làm với Indar. Muốn cho anh biết rằng những giả định của anh về tôi đã sai. Thực tế tôi đang diễn cái vai mà anh ta đang thấy. Tôi đang nói theo cách tôi từng nghe các lái buôn tại thị trấn nói, và thậm chí nói cả những điều họ đã nói.

Tôi nói, cố tạo ra một lối ngôn ngữ mới "Ở đây chúng tôi buôn bán theo lối chuyên môn hoá. Một thị trường rất tinh xảo có thể dễ dàng hơn theo một cách nào đó. Nhưng ở đây anh không thể theo những ý thích và không thích của cá nhân. Anh phải biết chính xác cái gì là cần. Và dĩ nhiên có những đại lý. Có tiền thật ở đây đấy".

Indar nói "Phải, phải. Anh vẫn như xưa, Salim ạ".

Tôi bỏ qua quá khứ đó. Nhưng tôi quyết định nhấn mạnh vào mọi thứ. Tôi nói "Dù sao tôi cũng không biết chuyện này sẽ kéo dài bao lâu",

"Nó sẽ kéo dài cho đến khi nào Tổng thống  muốn. Và không ai có thể nói nó kéo dài bao lâu. Ông ấy là một người kỳ lạ. Dường như ông ấy chẳng làm gì hết cả, và rồi ông ấy làm như một bác sĩ phẫu thuật. Cắt bỏ những phần ông ấy không thích".

"Chính vì vậy ông ấy đã hạ quân đội cũ. Thật là khủng khiếp Indar ạ. Ông ấy gửi một thông điệp đến đại tá Yenyi bắt ông này ở lại doanh trại để chờ chỉ huy quân lê dương. Thế là ông đại tá ở lại với đầy đủ quân phục và khi họ đến ông bắt đầu đi ra cửa. Họ bắn khi ông ấy đang bước đi. Và tất cả những người ở chỗ ông ấy nữa".

"Điều đó dù sao cũng cứu công việc làm ăn của anh đấy. Nhân tiê.nó đây tôi có cái này cho anh. Trước khi tới đây tôi đã đến gặp cha mẹ anh".

"Anh đã về nhà à?" Tôi hoàn toàn không trông chờ điều này.

Anh nói "Ồ, tôi đã về đó vài lần kể từ những sự kiện vĩ đại. Không tệ lắm đâu. Anh còn nhớ nhà anh không? Họ đã sơn lại nó theo màu của đảng. Giờ đây có cái gì đó như nhà của đảng. Mẹ anh gửi cho anh một chai tương dừa đây. Và không phải cho riêng anh đâu đấy. Cho Ali và anh. Bà ấy nói rõ như thế" và với Metty, lúc này đã trở lại với bình nước nóng và những tách cùng hộp nescafé và sữa hộp, anh ấy nói "Mẹ gửi cho mày tương dừa đấy, Ali".

Metty nói "Tương,tương dừa à. Thức ăn ở đây thật là horrible[1] Indar ạ".

Cả ba chúng tôi ngồi vào bàn, trộn cà phê, nước, sữa và quấy lên.

Indar nói "Tôi không muốn quay lại. Không phải lần đầu tiên. Tôi không nghĩ tim tôi chịu được điều đó. Nhưng máy bay là một thứ rất tuyệt. Bạn vẫn ngồi một chỗ khi đã tới chỗ khác. Máy bay nhanh hơn trái tim. Bạn tới nơi nhanh chóng và rời đi cũng nhanh chóng. Bạn không phải buồn thương nhiều quá. Và còn có một cái gì đó khác về máy bay. Bạn có thể quay trở lại một địa điểm nhiều lần. Và điều gì đó lạ lẫm xảy tới nếu bạn quay trở lại thường xuyên. Bạn không còn buồn tiếc về quá khứ nữa. Bạn thấy rằng quá khứ là cái gì đó chỉ tồn tại trong óc, không tồn tại trong cuộc sống thực. Bạn dẫm chân lên quá khứ, bạn đè nghiến nó. Đầu tiên thì giống như dẫm chân lên một khu vườn. Cuối cùng không khác gì bạn đang đi trên mặt đất. Đó là cách chúng ta phải học sống bây giờ. Quá khứ đang ở đây". Anh ta chạm tay vào ngực trái "Không phải ở đây" và anh chỉ ra con đường bụi mù.

Tôi cảm thấy anh đã từng nói những lời đó trước đây, hoặc đã để nó trong óc. Tôi nghĩ, anh chiến đấu để giữ được phong cách của mình. Có lẽ trong chúng tôi anh là người chịu đựng nhiều nhất.

Ba người chúng tôi ngồi, uống Nescafé. Và tôi nghĩ thời khắc này thật đẹp.

Cuộc trò chuyện vẫn hoàn toàn là độc thoại. Anh biết mọi điều về tôi, tôi không biết gì về cuộc sống gần đây của anh. Khi lần đầu tiên tới thị trấn tôi đã nhận ra phần lớn cuộc trò chuyện của người ở đây đều nhằm để trả lời những câu hỏi về chính họ, họ hiếm khi hỏi bạn về bạn, họ lơ lửng quá lâu. Tôi không muốn Indar cũng cảm thấy thế về tôi. Và tôi thực sự muốn biết về anh. Thế nên, hơi rụt rè một chút, tôi bắt đầu hỏi anh.

Anh nói anh đã ở thị trấn được vài ngày và sẽ ở lại vài tháng. Anh đến bằng tàu thuỷ à? Anh nói "Anh điên sao? Chết gí với bọn người châu Phi của dòng sông suốt bảy ngày ư? Tôi đi bằng máy bay chứ".

Metty nói "Tôi không thể đi mọi nơi bằng tàu thuỷ. Họ nói là kinh khủng lắm. Và thậm chí còn tệ hơn nếu đi thuyền, với nhà xí và mọi người nấu nướng cùng với ăn uống khắp nơi. Thật là kinh khủng, kinh khủng, họ nói với tôi như thế."

Tôi hỏi Indar anh sẽ ở đâu, tôi nghĩ rằng tôi nên đề nghị anh đến nhà tôi ở. Liệu anh có ở chỗ Van der Meyden không?

Đó là câu hỏi anh đợi được hỏi. Anh nói bằng giọng nhẹ nhàng không cần nhấn mạnh "Tôi ở khu nhà nước. Tôi có một ngôi nhà ở đó. Tôi là khách của chính phủ".

Và Metty xử sự bùng phát hơn tôi. Metty vỗ mạnh xuống bàn và nói "Indar!"

Tôi nói "Người Đàn Ông Vĩ Đại mời anh à?"

Anh bắt đầu hạ thấp mức độ "Không hoàn toàn. Tôi có hãng riêng. Tôi đến dạy một học kỳ ở trường bách khoa. Anh có biết trường đó không?"

"Tôi biết một người ở đó. Một sinh viên".

Indar làm như tôi đã ngắt  lời anh, như thể vậy, dù tôi sống ở nơi này, và anh thì vừa mới đến – tôi đi ngang qua, và không có quyền biết một học sinh ở trường bách khoa.

Tôi nói "Mẹ nó là một marchande, người mua hàng của tôi."

Điều này rõ là tốt hơn. Anh nói "Anh phải đến và gặp những người khác ở đó đi. Anh có thể không thích điều sẽ diễn ra. Nhưng anh phải dự đoán trước là sẽ diễn ra. Anh không được lặp lại sai lầm đó nữa".

Tôi muốn nói "Tôi sống ở đây. Tôi đã trải qua rất nhiều thứ trong sáu năm rồi". Nhưng tôi không nói điều đó. Tôi đang phỉnh nịnh Indar. Anh có ý tưởng riêng của mình về việc tôi là ai – và trên thực tế anh đã tóm được tôi tại cửa hiệu, với công việc làm ăn buôn bán dở hơi của tôi. Anh có ý tưởng riêng về chuyện anh là ai và anh đã làm gì, khoảng cách đã được thiết lập giữa anh và chúng tôi.

Sự tự đắc của anh không làm tôi tức tối. Tôi thấy thích thú nó là đằng khác, theo cách nhiều năm trước, tại bờ biển, khi còn là một đứa bé. Tôi đã thích thú những câu chuyện của Nazruddin về sự may mắn và những thú vui trên đời của ông, tại thị trấn thời thuộc địa. Tôi không vỗ bàn như Metty, nhưng tôi ấn tượng bởi cái tôi thấy ở Indar. Và đó là một điều làm giảm nhẹ những nỗi ác cảm mà anh làm tôi cảm thấy, để quên đi việc đã bị bắt tại trận, và để dành cho anh sự ngưỡng mộ thẳng thắn về cái anh đã làm cho chính an – với những áo quần London và sự ưu thắng mà anh nói tới, về sự đi lại của anh, ngôi nhà ở Khu của anh, địa vị của anh ở trường bách khoa.

Để ngưỡng mộ anh, để tỏ ra không ganh đua hay chống đối, phải tạo cho anh cảm giác thoải mái. Khi chúng tôi chuyện vãn bên tách Nescafé, khi Metty thỉnh thoảng kêu ầm lên, biểu lộ theo cung cách gia nhân của mình sự ngưỡng mộ mà người chủ của hắn cảm thấy, sự cáu kỉnh của Indar đã biến đi. Anh trở nên dễ mến, đầy hóm hỉnh, rất quan tâm. Cuối buổi sáng, tôi cảm thấy cuối cùng tôi đã có được một người bạn cùng dạng với mình. Tôi rất cần một người bạn như thế.

 

Và không những không trở thành chủ nhà và người hướng dẫn cho anh, tôi còn được anh dẫn dắt. Đó chưa phải toàn bộ sự phi lý. Tôi có quá ít ỏi thứ để cho anh xem. Mọi điểm quan trọng của thị trấn tôi biết đều được đem ra nói chỉ trong vài giờ đồng hồ, đó là điều tôi phát hiện khi lái xe chở anh sáng hôm đó.

 Có dòng sông, với một đoạn đi dạo gần cầu tàu. Có cầu tàu: những sàn sửa chữa với những mảng sắt nhăn đầy những mẩu linh kiện máy rỉ hoen, và ở một đoạn dọc sông là nhà thờ lớn đổ nát, được bao phủ rất đẹp và có dáng vẻ cổ kính, giống như ở châu Âu – nhưng bạn chỉ có thể nhìn từ con đường, vì cây bụi quá dầy và nơi đó nổi tiếng nhiều rắn. Có những quảng trường trầy xước với hàng cột xấu xí và không có tượng, những toà nhà hành chính từ thời thuộc địa trên những đại lộ hai bên trồng cọ, trường trung học, với những chiếc mặt nạ hỏng hết để trong phòng để súng (nhưng cái đó làm Indar chán ngấy), Van der Meyden và Bigburger của Mahesh, những nơi chẳng có mấy thứ có thể mang ra khoe với một người đã từng ở châu Âu.

Có các cité và những khu nhà mọc lên bất hợp pháp (một số trong đó tôi đã lái xe đến vào lần đầu tiên) với hàng đống rác, những ụ bụi nhầu nhĩ, và rất nhiều lốp xe cũ trong bụi. Với tôi những đống rác và lốp xe này là những đặc điểm của các cité và thị trấn tồi tàn. Những đứa bé gầy gò ở đây biết nhảy lên rất giỏi trên những cái lốp đó, chạy, nhảy trên lốp xe, và rồi bắn lên cao trong không khí. Nhưng đã gần giữa trưa. Không còn trẻ con chơi trò nhảy nhót đó nữa khi chúng tôi lái xe đến, và tôi nhận ra rằng (sau một công trình không có gì ở trong, và những hàng cột không có tượng) nói đúng ra tôi đang chỉ cho Indar xem rất nhiều rác rưởi. Tôi đột ngột quay xe khi nghĩ vậy. Ghềnh nước và làng chài – đã được gắn vào Khu nhà nước, anh đã thấy chúng rồi.

Khi chúng tôi lái xe đến Khu – vùng đệm, một thời hoang vắng, giờ đây đầy những lêù của những người mới đến từ các làng, những cái lều mà cùng với Indar, tôi như có thể thấy lần đầu tiên vậy, mặt đất đỏ giữa những túp lều róc rách những dòng suối nhỏ đầy rác rưởi màu đen hoặc xanh xỉn, cây ngô và sắn trồng tại mọi khoảng đất – trong khi tôi lái xe, Indar nói "Anh nói anh ở đây được mấy năm rồi nhỉ?"

"Sáu năm".

"Và anh đã chỉ cho tôi mọi thứ rồi chứ?"

Tôi còn chưa chỉ cho anh gì nhỉ? Còn một ít cửa hiệu, nhà và căn hộ. Cậu lạc bô Hellenic – và những quầy bar. Nhưng tôi không thể chỉ cho anh những quầy bar được. Và quả thật, nhìn vào chỗ này với đôi mắt của anh, tôi thực sự kinh ngạc với những gì thật ít ỏi quanh tôi. Và tôi ngừng tìm kiếm nhiều hơn nữa. Chỉ có thể thôi. Tôi đã nghĩ về thị trấn như một thị trấn thực thụ, giờ đây tôi thấy nó như một đống hổ lốn những túp lều. Tôi nghĩ tôi đã chịu đựng nơi này. Nhưng tôi chỉ đơn giản là đang sống mù quáng – giống những người mà tôi biết, mà trong sâu thẳm tôi nghĩ mình khác hẳn.

Tôi không thích khi Indar nói tôi đang sống trong điều kiện hệt như cộng đồng chúng tôi hồi trước, không quan tâm đến điều sẽ diễn ra. Nhưng cho đến lúc này anh không hề sai. Anh nói về Khu, và chúng tôi ở tại thị trấn mà Khu chỉ coi là một trong số các đầu mối cung cấp hàng hoá. Chúng tôi biết ít về cuộc sống ở đó, và chúng tôi không muốn tìm hiểu. Chúng tôi coi Khu là một phần của sự lãng phí và sự điên rồ của đất nước. Nhưng quan trọng hơn, chúng tôi coi nó là một phần của chính sách của Tổng thống, và chúng tôi không muốn bị trộn lẫn vào đó.

Chúng tôi cảnh giác với những người nước ngoài mới tại ngoại vi thị trấn chúng tôi. Họ không giống các kỹ sư, lái buôn và nghệ nhân mà chúng tôi biết, và tôi khá là ghét họ. Người trong Khu giống như những người khách du lịch, nhưng họ không phải những người tiêu nhiều tiền – mọi thứ họ đều tìm thấy ở Khu. Họ không quan tâm đến chúng tôi, với ý nghĩ rằng họ là những người được bảo vệ, chúng tôi thấy họ như những người tách biệt khỏi cuộc sống thực sự ở nơi này, nhưng với lý do không mấy thực tế đó, và không thực tế như chính chúng tôi.

Không biết điều đó và nghĩ lúc nào chúng tôi cũng cúi đầu, khôn ngoan và bảo vệ những quyền lợi của mình, chúng tôi trở nên giống với những người châu Phi mà Tổng thống  cai trị. Chúng tôi chỉ đơn giản là cảm thấy sức nặng của quyền lực Tổng thống. Khu đã được Tổng thống  tạo ra, vì những lý do riêng của ông mà ông gọi những người nước ngoài đến sống ở đây. Với chúng tôi thê là đã đủ, chúng tôi  chẳng việc gì phải đặt câu hỏi thêm nữa.

Vài lần sau, khi Ferdinand tới thị trấn để gặp mẹ nó đến mua đồ, tôi lái xe đưa nó về ký túc xá của khu. Điều tôi thấy khi đó là tất cả những gì tôi biết cho đến khi Indar trở thành người dẫn đường cho tôi.

 

Đó là điều Indar đã nói. Anh có một ngôi nhà trong Khu và là khách của chính phủ. Nhà anh trải thảm và trang trí theo kiểu phòng trưng bày – mười hai chiếc ghế ăn chạm khắc bằng tay, những chiếc ghế nhồi bọc nhung tổng hợp có tua xếp thành hai hàng trong phòng khách, đèn, bàn, điều hoà khắp nơi. Điều hoà nhiệt độ là rất cần thiết. Những ngôi nhà của Khu, được xây trên khu đất được san phẳng, giống như những hộp bê tông khổng lồ, với mái ngói không chìa ra ngoài chút nào, để vào bất kỳ giờ nào của một ngày nắng chói chang một bức tường, hoặc hai, phải chịu hoàn toàn sức nóng của mặt trời. Mỗi ngôi nhà đó có một gia nhân, mặc trang phục phục vị của Khu – quần trắng, áo trắng và một cái áo khoác cho gia nhân (thay cho cái tạp dề thời thuộc địa). Đó là phong cách Khu với những người ở vào địa vị của Indar. Phong cách đó thuộc về Tổng thống. Đó là người đã quy định đồng phục của những người hầu.

Và trong cái thế giới Khu lạ lùng này Indar rõ ràng rất được kính trọng. Một phần sự kính trọng đó dành cho "đơn vị" mà anh là thành viên. Anh không thể giải thích rõ ràng cho tôi đơm vị nào đã gửi anh đến châu Phi – hoặc giả tôi quá ngây thơ để tin điều đó. Nhưng nhiều người trong Khu dường như thuộc về những đơn vị rất bí hiểm, và họ coi Indar không phải như một người thuộc cộng đồng chúng tôi hay một người tị nạn đến từ khu bờ biển, anh là người của họ. Đối với tôi, điều này khá là kỳ quặc.

Những người nước ngoài theo phong cách mới này chúng tôi đã từng thấy họ tới trước đây trong thị trấn. Chúng tôi đã thấy họ mặc đồ châu Phi, chúng tôi đã nhận ra sự vui tươi của họ, thật khác với sự khó đăm đăm của chúng tôi, niềm vui sướng của họ với tất cả những gì họ tìm thấy. Và chúng tôi từng coi họ như những kẻ ăn bám và khá nguy hiểm, phục vụ một mục tiêu bí ẩn nào đó của Tổng thống, những người cần phải dè chừng.

Nhưng giờ đây sống cùng với họ ở Khu, nơi mà theo cách nào đi nữa đều là chỗ nghỉ mát của họ, và được tiếp nhận dễ dàng vào cuộc sống của họ, thế giới của bungalow và điều hoà nhiệt độ cùng sự dễ dãi hội hè của họ, nghe được trong những cuộc trò chuyện đầy học thức của họ tên những thành phố nổi tiếng, tôi ngả sang hướng khác và bắt đầu nhận thấy chúng tôi, những người trong thị trấn, trong mắt họ mới thật là câm nín, xoàng xĩnh và trây ì biết bao nhiêu. Tôi bắt đầu có một số cảm giác về những niềm phấn khích xã hội về cuộc sống ở Khu, về những người gắn liền với một con đường mới, đã mở rộng hơn, ít liên quan hơn đến những kẻ thù và hiểm nguy, sẵn sàng hơn để được quan tâm và giải trí, tìm kiếm giá trị nhân văn ở những người khác. Trong Khu họ có cách riêng của mình để nói về mọi người và các sự kiện, họ gắn liền với thế giới, ở chỗ họ có cảm giác về sự phiêu lưu.

Tôi nghĩ về cuộc đời tôi, cuộc đời Metty, Shoba và Mahesh và sự riêng tư quá mức của họ, về những người Italia và Hy Lạp – đặc biệt người Hy Lạp – thẳng ruột ngựa và lo toan cho gia đình và sự bồn chồn của châu Phi  và người châu Phi. Hiếm khi có cái gì mới mẻ ở đó. Cho nên chỉ đi vài dặm từ thị trấn đến Khu luôn tạo ra một sư điều chỉnh, buộc phải có một thái độ mới, và gần như lần nào cũng như gặp một đất nước khác hẳn. Tôi hổ thẹn với bản thân mình về những phán xét mới mà tôi có về những người bạn Shoba và Mahesh, những người đà làm rất nhiều việc cho tôi trong bao nhiêu năm qua và với họ tôi cảm thấy an toàn. Nhưng tôi không thể không có những ý nghĩ đó. Tôi nghiêng về việc nghĩ theo một cách khác, đến cuộc sống ở Khu, như tôi đã thấy khi đi cùng với Indar.

Ở Khu, tôi nhận thấy mình thuộc về một thế giới khác. Khi cùng với Indar gặp những người ở đó tôi tìm được ít điều để nói. Có những lúc tôi nghĩ tôi có thể bỏ anh lại đó. Nhưng dường như anh không hề có ý nghĩ đó trong đầu. Anh dẫn tôi đi khắp nơi như một người bạn của gia đình anh ở bờ biển, một thành viên cộng đồng của anh. Anh không chỉ muốn tôi chứng kiến thành công của anh với những người ở Khu, anh dường như còn muốn tôi chia sẻ nó nữa. Đó là cách anh trả công cho sự ngưỡng mộ của tôi và tôi thấy được sự tế nhỉ ở anh mà tôi chưa từng thấy khi còn ở bờ biển. Các đối nhân xử thế của anh giống như một hình thức cân nhắc, và dù cơ hội nhỏ đến mấy, cách xử sự đó của anh vẫn không hề thất bại. Chúng là cách xử sự của một ông bầu gánh hát, hơi giống vậy. Nhưng cũng vẫn còn phong cách cũ của gia đình anh, như thể anh cần có sự an toàn và ngưỡng mộ để thực hiện lại nó. Trong tính nhân tạo của Khu anh tìm thấy sàn diễn tuyệt vời cho mình.

Trong thị trấn chúng tôi không thể dành cho Indar sự coi trọng và niềm phấn khích tập thể mà anh có được ở Khu; chúng tôi hiếm khi tán thành những gì anh có được ở đó. Với tính nhạo báng của mình, được tạo ra sau nhiều năm bất ổn, chúng tôi có thể nhìn nhận một con người theo cách nào nữa? Chúng tôi đánh gía những người bán hàng ở Van der Weyden bởi những hãng mà họ đại diện, sự khéo léo của họ khi bán hàng cho chúng tôi. Biết những con người đó, có được những dịch vụ mà họ cung cấp, và được phỉnh phờ ở chỗ chúng tôi không phải khách hàng bình thường trả đủ tiền hoặc chỗ chúng tôi phải xếp hàng, chúng tôi nghĩ đã nắm được cả thế giới, và chúng tôi coi những người bán hàng đó như là những người đại diện đầy quyền lực cần phải tính đến. Chúng tôi đánh giá những người lái buôn bằng những đòn của họ, những hợp đồng, những hãng mà họ mang đến.

Cũng vậy với người châu Phi, chúng tôi đánh gía họ qua sự khéo léo, như những người trong quân đội hoặc các quan chức hải quan và cảnh sát, để phục vụ chúng tôi, và đó cũng chính là cách họ tự đánh giá mình. Bạn có thể điểm mặt những người có tai mắt ở chỗ Bigburger. Họ, chia sẻ cuộc  bùng nổ với chúng tôi, và không còn tiều tuỵ như trước đây nữa, đeo vàng hết mức có thể - những cặp kính mạ vàng, nhần vàng, bút máy bút chì vàng, đồng hồ vàng với dây đeo bằng vàng chắc nịch. Chúng tôi thường đùa cợt với nhau về sự tầm thường và tính say mê vàng của người châu Phi. Vàng – làm thế nào nó có thể thay đổi con người, những người dù sao cũng chỉ là người châu Phi? Nhưng chúng tôi cũng muốn có vàng, và chúng tôi thường xuyên coi trọng những người châu Phi đeo vàng trên người.

Những ý tưởng của chúng tôi về con người chỉ đơn giản thế thôi, châu Phi là nơi mà chúng tôi phải sống. Nhưng tại Khu thì khác hẳn. Tại đó họ có thể chế nhạo việc buôn bán vàng, vì trong bầu khí quyển ma thuật của Khu, giữa các đại lộ và nhà cửa mới, một châu Phi khác đã được tạo ra. Trong Khu, người Phi – những người trẻ tuổi ở trường bách khoa – thật lãng mạn. Họ không phải lúc nào cũng có mặt tại các bữa tiệc hoặc hội họp, nhưng toàn bộ cuộc sống của Khu được xây dựng quanh họ. Trong thị trấn "châu Phi" có thể là một từ bị lạm dụng với nghĩa xấu, trong Khu, từ đó là một từ có ý nghĩa lớn hơn. Một "người châu Phi" tại đó là một người mới khác mọi người đang bận rộn làm việc, một người được thừa hưởng – người quan trọng mà nhiều năm trước Ferdinand từng tự coi mình như thế.

Trong thị trấn, khi còn ở trừơng trung học, Ferdinand và bạn bè nó – dĩ nhiên bạn bè nó – vẫn gắn chặt với những con đường làng. Khi chúng không còn trách nhiệm, không ở trường trung học hoặc với những người như tôi, chúng liền vươn tới cuộc sống mới của châu Phi của thị trấn. Ferdinand và Metty – hoặc Ferdinand và bất kỳ thằng bé châu Phi nào – có thể trở thành bạn bè vì giữa chúng có nhiều điểm chung. Nhưng trong Khu không cách nào có thể nhầm giữa Ferdinand và những đứa bạn trong bộ đồng phục màu trắng gia nhân.

Ferdinand và bạn bè nó có ý tưởng rõ ràng về việc chúng là ai và chúng được trông chờ gì. Chúng là những người trẻ tuổi được học bổng của chính phủ, chúng có thể sớm trở thành những quan chức tại thủ đô, phục vụ Tổng thống. Khu là sáng tạo của Tổng thống, và trong Khu với sự hiện diện của những người nước ngoài chúng có một ý tưởng lớn về một châu Phi mới. Ngay cả tôi, khi ở Khu, cũng bắt đầu cảm thấy một ít tính lãng mạn của ý tưởng đó.

Như vậy là người nước ngoài và người châu Phi xử sự và phản ứng với nhau, và mỗi người bị khóa kín trong ý tưởng về vinh quang và cái mới. Ở mọi nơi ảnh Tổng thống  nhìn xuống chúng tôi. Trong thị trấn, trong những cửa hiệu của chúng tôi và các toà nhà chính phủ, chỉ có ảnh Tổng thống, người cai trị, một cái gì đó hiển nhiên phải ở đó. Tại Khu vinh quang của Tổng thống  đè nát tất cả những người châu Phi mới của ông.

Và những thanh niên đó thật sáng chói. Tôi từng nhớ chúng là những kẻ ăn cắp vặt, ngoan cố và điên rồ, chỉ có lối khôn lỏi làng xã; và tôi từng cho rằng học hành với chúng chỉ là chuyện nhồi sọ. Cũng giống những người khác trong thị trấn, tôi tin rằng những khóa học đó bị xếp hạng thấp hoặc thay đổi đối với người châu Phi. Điều đó là có thể, chúng có một số môn – quan hệ quốc tế, bối cảnh chính trị, nhân học. Nhưng những người trẻ tuổi đó có trí tuệ thật sắc bén và nói rất hay – và nói bằng tiếng Pháp, chứ không phải thổ ngữ. Họ đã phát triển nhanh. Mới chỉ có vài năm trước thôi, Ferdinand còn không có khả năng nắm bắt được ý tưởng về châu Phi. Bây giờ thì không thế nữa. Các tạp chí về tình hình châu Phi – dù khá là giả tưởng, những tạp chí được tài trợ từ châu Âu – và báo chí, dù bị kiểm duyệt, đã nhân rộng những tư tưởng, kiến thức, thái độ mới.

Một tối Indar dẫn tôi đến buổi hội thảo của anh, trong phòng học của toà nhà bách khoa rộng lớn. Cuộc hội thảo không thuộc về khóa học nào cả. Nó là hoạt động ngoại khóa, và được miêu tả trên cửa là một bài tập nói tiếng Anh. Nhưng hẳn là Indar trông chờ nhiều hơn thế. Phần lớn bàn đều kín người. Ferdinand có ở đó, trong một nhóm nhỏ bạn của nó.

Những bức tường màu bánh bích quy của phòng học để trống, chỉ treo một bức ảnh Tổng thống  – không phải mặc quân phục đội mũ lưỡi trai da cáo của lãnh đạo, một áo khoác vạt ngắn và một chiếc ca vát lốm đốm, Indar, ngồi dưới bức ảnh này, bắt đầu nói, rất thoải mái, về những Khu khác của châu Phi mà anh từng đến, và những người trẻ tuổi nghe rất say sưa. Sự ngây thơ và hăng hái của họ thật đáng kinh ngạc. Dù cho những cuộc chiến tranh và đảo chính mà họ đã từng nghe, châu Phi với họ vẫn  cứ là một châu lục mới, và họ cư xử như thể Indar cảm thấy giống họ, là một trongsố họ. Bài học tiếng trở thành một cuộc thảo luận về châu Phi, và tôi có thể cảm nhận được chủ đề bách khoa, chủ đề bài giảng, đã biến thành cái cớ. Một số câu hỏi rất hiểm hóc, nhưng Indar rất giỏi, luôn bình tĩnh, không bao giờ ngạc nhiên. Anh giống như một triết gia, anh thử hướng những người trẻ tuổi kiẻm tra những từ mà họ đang sử dụng.

Họ nói một lúc về đảo chính ở Uganda, và về những khác biệt về sắc tộc và tôn giáo ở đó. Rồi họ bắt đầu nói chung hơn về tôn giáo ở châu Phi.

Có một vài cử động trong nhóm quanh Ferdinand. Và Ferdinand – không để ý đến tôi – đứng dậy và hỏi "Liệu vị khách đáng kính có thể cho biết ông nghĩ gì về những người châu Phi đang theo đạp Cơ Đốc?"

Indar làm điều anh từng làm trước đó. Anh nhắc lại câu hỏi. Anh nói "

Tôi cho rằng điều anh thực sự muốn hỏi là liệu châu Phi có thể được phục vụ bởi một tôn giáo không thuộc về châu Phi không? Đạo Hồi có phải một tôn giáo châu Phi không? Anh có cảm thấy đạo Hồi sẽ được truyền bá rộng rãi ở châu Phi không?"

Ferdinand không trả lời. Cũng giống như ngày trước – nó không bao giờ nghĩ quá một điểm nào cả.

Indar nói "Nào, tôi cho rằng anh có thể nói đạo Hồi đã trở thành một tôn giáo của châu Phi. Nó đã ở đây lâu lắm rồi. Và anh có thể nói những người Ai cập theo đạo Cơ đốc cũng vậy. Tôi không biết – có lẽ anh cảm thấy rằng những người đó đã bị giải nhân cách bởi những tôn giáo đó đến mức họ không còn liên quan gì đến châu Phi nữa cả. Anh có định nói như thế không? Hay là anh muốn nói họ là những người châu Phi có số phận khác biệt?"

Ferdinand nói "Ngài khách mời rất đáng kính biết rất rõ về loại Cơ đốc giáo mà tôi muốn nói. Ông đang làm rối vấn đề. Ông biết về trạng thái thấp kém của tôn giáo châu Phi và ông biết rất rõ rằng đó là một câu hỏi trực tiếp tới ông về sự gợi mở hoặc ngược lại về tôn giáo châu Phi. Ngài khách mời là một quý ông rất có thiện cảm với châu Phi, ông đã đi đến nhiều nơi thuộc châu Phi. Ông có thể khuyên chúng tôi. Đó là điều chúng tôi muốn hỏi".

Một số dãy bàn tỏ ý đồng tình.

Indar nói "Để trả lời câu hỏi đó anh phải cho phép tôi hỏi anh một câu đã. Các anh là sinh viên. Các anh không phải dân làng. Các anh không thể giả bộ mình là ai. Các anh sẽ sớm phục vụ Tổng thống  của các anh và chính phủ của ông theo nhiều cách khác nhau. Các anh là người của một thế giới hiện đại. Các anh có còn cần tôn giáo châu Phi nữa không? Hoặc các anh còn nhiều tình cảm cho nó? Liệu các anh có tức giận khi mất nó không? Hoặc các anh có cảm thấy các anh phải tiếp tục chỉ bởi vì nó là của các anh?"

Mắt Ferdinand đanh lại. Nó dịch bàn ra và đứng dậy. "Ông đang hỏi một câu hỏi phức tạp".

Và từ "phức tạp" vang lên giữa các sinh viên, rõ ràng một từ không đồng tình,

Indar nói "Anh đang quên đấy. Tôi không nêu câu hỏi. Anh nêu nó ra, và tôi chỉ hỏi thêm thông tin thôi".

Câu nói này lập lại trật tực, chấm dứt những tiếng đập bàn. Nó làm cho Ferdinand trở lại thân thiện, và nó tiếp tục thân thiện như thế cho đến cuối buổi hội thảo. Cuối buổi nó đi đến chỗ Indar, khi những người phục vụ mặc jackets de boy (áo khoác gia nhân) đẩy những chiếc xe đẩy đến phục vụ cà phê và bánh bích quy (một phần của phong cách Tổng thống  đã quy định cho Khu).

Tôi nói với Ferdinand:Cậu đã vặn vẹo bạn tôi đấy".

Nó nói "Cháu đã không làm thế nếu biết đó là bạn của chú".

Indar nói "Thế những suy nghĩ thực sự của anh về tôn giáo là như thế nào?"

Ferdinand nói "Tôi không biết. Đó là điều tôi đã hỏi. Không phải câu hỏi dễ với tôi".

Sau đó, khi Indar và tôi rời khỏi toà nhà trường bách khoa để đi bộ về nhà anh, Indar nói "Chàng trai khá là ấn tượng đấy. Anh ta là con trai marchande của anh à? Điều này giải thích nhiều điều. anh ta có nền tảng khá đặc biệt".

Trong sân bên ngoài toà nhà bách khoa tràn ngập cờ. Đèn cao thế sáng rực cả hai bên lề đại lộ chính, và đại lộ cũng ngập ánh sáng, giống như một đường băng. Một số bóng đèn đã vỡ và cỏ đã mọc cao xung quanh.

Tôi nói "Mẹ nó còn là một phù thuỷ".

Indar nói "Anh chẳng cần quan tâm lắm đâu. Đêm nay chúng thật kinh, nhưng chúng không hỏi những câu hỏi thực sự khó. Anh có biết câu hỏi đó là gì không? Là liệu người châu Phi có phải là nông dân không. Đó là một câu hỏi vô nghĩa, nhưng xung quanh nó có cả đống cuộc chiến đấy. Nói gì anh cũng rơi vào bất định. Anh thấy tại sao tôi cần có đơn vị của mình. Trừ phi chúng ta có thể làm họ nghĩ được, và cho họ được những ý tưởng thực sự thay vì chỉ có chính trị và những nguyên lý, nếu không những người trẻ tuổi đó sẽ để thế giới của chúng ta hỗn loạn trong nửa thế kỷ nữa cho mà xem".

Tôi nghĩ cả hai chúng tôi đã đi quá xa khi nói về châu Phi như vậy. Chúng tôi thậm chí đã coi trò phù thuỷ châu Phi là nghiêm túc. Ở bờ biển không như thế. Nhưng tối đó khi chúng tôi nói chuyện về cuộc hội thảo, tôi bắt đầu tự hỏi liệu Indar và tôi có tự làm rối trí và liệu chúng tôi có không cho phép châu Phi mà chúng tôi nói đến được trở nên một châu Phi quá khác biệt so với hiện nay không. Ferdinand không muốn mất đi mối liên lạc với các linh hồn, nó nóng lòng được tự là mình. Đó là mặt sau của câu hỏi. Chúng tôi đều hiểu nỗi lo lắng của nó, nhưng ở buổi hội thảo dù sao ai cũng xấu hổ, hoặc sợ hãi, hoặc không dám nói thẳng đến điều đó. Cuộc tranh luận đầy những từ ngữ theo một cách khác, về tôn giáo và lịch sử. Giống là về Khu, châu Phi là một nơi đặc biệt.

Tôi cũng tự hỏi về Indar. Làm thế nào anh có thể có được những thái độ đó? Hồi còn ở bờ biển tôi từng nghĩ anh căm ghét châu Phi. Anh đã mất mát nhiều, tôi không nghĩ anh lại có thể tha thứ. Nhưng anh đã toả sáng ở Khu, đó là địa bàn của anh.

Tôi không "phức tạp" đến thế, tôi thuộc về thị trấn. Và rời khỏi Khu để trở về thị trấn, nhìn lại những túp lều, từng đống từng đống, những đống rác, cảm thấy sự hiện diện của dòng sông và cánh rừng chung quanh (giờ đây chúng có ý nghĩa nhiều hơn một cảnh trí), nhìn thấy những tốp người rách rưới bên ngoài những nơi uống rượu, những bếp lửa lều trại trên hè phố ở trung tâm thị trấn – làm điều đó khác nào quay trở lại với châu Phi mà tôi biết. Đó chính là hạ nhiệt từ sự phấn khích ở Khu, nắm bắt lại thực tế. Liệu Indar có tin vào châu Phi chỉ qua lời lẽ? Liệu ai đó ở Khu biết không? Cách chúng tôi sống ở thị trấn, chuyện gãu của những người bán hàng tại Van der Weyden và các quán bar, những bức ảnh của Tổng thống  tại các cơ quan chính phủ và trong cửa hiệu của chúng tôi, doanh trại quân đội ở lâu dài đã được sửa sang của người trong cộng đồng chúng tôi – liệu tất cả có là sự thật không?

Indar nói "Liệu có ai tin vào cái gì đó không? Quan trọng gì chứ?"

Đây là một lễ nghi tôi làm mỗi khi tôi phải thanh toán một lô hàng khó với hải quan. Tôi điền mẫu tờ khai, gập nó lại trên tờ năm trăm quan và đưa nó cho viên hải quan đang ngồi ở đó. Anh ta có thể - ngay khi anh ta bảo bộ hạ ra khỏi phòng (và họ dĩ nhiên biết tại sao được lệnh ra khỏi phòng – liếc nhìn xấp giấy bạc để kiểm tra. Khi đó anh ta sẽ lấy tiền, những điều khoản trên tờ khai có thể được kiểm tra với sự chú ý cường điệu, và anh ta sẽ nhanh chóng nói "C'est bien, Mis Salim, vous êtes en ordre[2]" Cả anh ta và tôi đều nhớ đến những tờ giấy bạc. Chúng tôi chỉ có thể nói về chi tiết trên tờ khai, đã được điền rất đúng, được công nhận đúng đắn, có thể được coi là tấm lá chắn cho sự đúng đắn của cả hai chúng tôi. Cái còn nằm lại ở trung tâm của cuộc trao đổi có thể được đi qua trong sự yên lặng, và sẽ không để lại dấu vết nào trong hồ sơ.

Do đó, trong những cuộc trò chuyện của tôi với Indar về châu Phi – mục đích của đơn vị của anh, Khu, những lo lắng c anh về các học thuyết mới du nhập, sự nguy hiểm với châu Phi về tính mới mẻ nhất của nó, những ý tưởng đầu tiên được xem an toàn nhất bởi những đầu óc mới cũng dính chắc như dải băng dính – tôi cảm thấy rằng giữa chúng tôi có một sự giả dối nào đó, hoặc chỉ là một sự loại bỏ, một khoảng trống nào đó, giữa những cái cả hai chúng tôi đều lượn lờ rằng cẩn trọng. Sự loại trừ này liên quan đến quá khứ của chúng tôi, về cuộc sống bị nghiền nát tại cộng đồng của chúng tôi, Indar từng gợi lại cuộc gặp gỡ đầu tiên của  chúng tôi tại cửa hiệu. Anh nói anh đã học được cách dẫm chân lên quá khứ. Thoạt đầu giống như bước trên khu vườn, rồi sau đó giống như bước trên mặt đất.

Tôi rối bời với chính mình. Khu là một trò chơi khăm. Nhưng cùng lúc nó lại rất thật, vì nó đầy những người đàn ông nghiêm túc ( và một số phụ nữ). Liệu có một sự thật nào đó bên ngoài con người? Liệu con người có thể tạo ra sự thật cho chính mình? Mọi điều người ta làm hoặc tạo ra đều trở thành có thực. Cho nên tôi  chao đảo giữa Khu và thị trấn. Luôn là an toàn được trở về thị trấn mà tốt biết, thoát khỏi cái châu Phi của những từ ngữ và tư tưởng tồn tại ở Khu (và từ đó thường thì người châu Phi theo nghĩa thực thể vắng mặt). Nhưng Khu, như vinh quang và những niềm phấn khích xã hội của cuộc sống ở đó, luôn vẫy gọi tôi trở lại.

Chú thích:

[1] tiếng Pháp: khủng khiếp

[2] Tốt rồi ngài Salim, Ông điền đúng rồi