Tia Chiếu Khủng Khiếp Của Kỹ Sư Garin

- 20 -

91

 

Bãi đón khí cầu máy đã xây dựng xong. Đảo Vàng báo tin rằng khí cầu máy đã cất cánh, mặc dù phong vũ biểu chỉ thời tiết rất xấu.

 

Suốt trong những ngày cuối cùng này, Lêvi thường mời Manxép đến để chuyện trò về những phát minh kỳ diệu của ông ta. Y ngồi trên tấm ván nằm, hơi xa các công nhân, rút chai rượu ra và pha vào trà cho Manxép. Y cố nói khẽ, dịu dàng, âu yếm. Nhưng Manxép hình như đã phát điên...

- Ông Lêvi ạ, ông đừng tìm cách đánh lừa tôi nữa. Các tài liệu, giấy tờ của tôi, các công thức của tôi, các bản thiết kế khoan sâu của tôi cũng như các tập nhật ký của tôi đều đã cho vào hộp sắt, hàn kín lại và đem giấu ở một nơi chắc chắn.. Tôi sẽ bay đi, còn những thứ đó sẽ ở lại đây, không một ai, kể cả Garin, sẽ nhận được những tài liệu ấy. Dù có tra tấn tôi chăng nữa, tôi cũng không đưa ra đâu...

- Bác cứ yên tâm, bác Manxép ạ, bác làm việc cùng những người tử tế cả.

- Tôi không ngu ngốc lắm đâu. Garin cần những công thức của tôi... Tôi cần cuộc sống của tôi. Tôi muốn ngày nào cũng được tắm nước thơm, được hút thuốc lá đắt tiền, được uống bia ngon... Tôi sẽ lắp răng giả và sẽ nhai kẹo sôcôla... Tôi cũng muốn vinh quang chứ?... Quỷ tha ma bắt tất cả các ông cùng với Garin đi...

- Bác Manxép, đến đảo Vàng, bác sẽ được sống cuộc sống như đế vương vậy...

- Thôi đi ông... Tôi biết Garin lắm... Garin căm ghét tôi bởi vì con người anh ta hoàn toàn do tôi nhào nặn nên... Nếu không có tôi, anh ta sẽ chỉ là một thằng bịp bợm hạng bét... Cái ông sẽ chở đi bằng khí cầu máy sẽ là bộ óc thiên tài của tôi chứ không phải những cuốn vở ghi chép các công thức của tôi.

 

Chú bé Ivan dỏng tai nghe những đoạn đứt quãng của các câu chuyện này. Vào đêm hoàn thành việc xây dựng bãi đón khí cầu máy, em bò đến bên Manxép đang mở mắt nằm yên và thì thầm tận tai ông ta:

- Bác Manxép ạ, thây kệ bọn chúng. Ta nên đi Lêningrát là hơn... Cháu và chú Taraskin sẽ chăm nom bác chu đáo... sẽ lắp răng giả cho bác... sẽ tìm cho bác một nơi ở tử tế. Bác việc gì phải bám lấy bọn tư sản cơ chứ...

- Không được đâu, Ivan ạ, bác là người bỏ đi rồi, những ước muốn của bác quá mãnh liệt, - Manxép đáp, ánh mắt vẫn nhìn trần nhà. - Trí tưởng tượng điên rồ của bác đã sôi sùng sục suốt bảy năm rồi dưới cái mái nhà khốn kiếp này, bác không muốn đợi thêm một ngày nào nữa...

 

Ivan đã hiểu từ lâu về thực chất của "đoàn thăm dò Pháp" này, do đó chú chăm chú lắng nghe, quan sát và rút ra kết luận riêng của chú.

 

Giờ đây, chú theo dõi từng cử chỉ của Manxép và vào đêm cuối này, chú không ngủ, mỗi khi mắt chú bắt đầu díp lại là chú lại chọc lông chim vào lỗ mũi hoặc véo cho mình một cái thật đau.

 

Lúc rạng sáng, Lêvi giận dữ choàng áo khoác, quấn khăn kín cổ rồi đi đến trạm phát sóng trong hầm ngay bên cạnh. Ivan không rời mắt khỏi Manxép. Lêvi vừa bước ra thì Manxép lập tức nhìn quanh xem mọi người có ngủ không, rồi ông ta thận trọng bước xuống đất, lần vào góc tối, ông ta quay lại, bỏ thêm củi vào lò. Khi lửa cháy bùng lên, ông ta lại đi vào góc nhà.

 

Ivan đã đoán ra được chỗ ông ta nhìn... Em vứt đi chiếc lông chim vẫn dùng để chọc vào lỗ mũi cho tỉnh, nằm nghiêng người, chùm chăn kín đầu và lập tức ngủ thiếp đi.

 

Cơn bão tuyết vẫn không ngớt. Suốt hai ngày đêm nay, chiếc khí cầu máy đồ sộ treo lơ lửng trên khoảng rừng trống, tựa mũi vào hàng trụ của bến đón. Phi hành đoàn phải vất vả lắm dọn sạch tuyết bám vào thành ngoài.

 

Viên đoàn trưởng phi hành đoàn khom người, gọi to với Lêvi đứng ở dưới:

- Ông Lêvi, ông làm cái trò gì thế? Phải bay đi thôi... Mọi người kiệt sức rồi.

Lêvi rít răng đáp:

- Tôi vừa nói chuyện với đảo một lần nữa. Đảo ra lệnh phải chở thằng nhãi đi bằng bất cứ giá nào...

- Trụ chống không chịu nổi nữa đâu...

Lêvi chỉ nhún vai. Dĩ nhiên, vấn đề đâu phải ở Ivan. Đêm qua, chú mất tích... Khi biết tin ấy, Lêvi phủi tay:

- Không quan trọng.

Nhưng câu chuyện hóa ra nghiêm trọng hơn nhiều.

 

Manxép là người đầu tiên leo vào khoang khí cầu máy. Một phút sau, lo lắng một việc gì đó, ông ta leo theo chiếc cầu thang nhôm xuống đất và tập tễnh đi vào nhà. Ngay lập tức, từ trong nhà vang ra tiếng gào thét tuyệt vọng của ông ta. Ông ta điên cuồng vung hai tay lên:

- Chiếc hộp sắt của tôi đâu rồi? Ai đã lấy mất những tài liệu của tôi?... Mày, mày ăn cắp của tao phải không, thằng khốn kiếp?

Manxép nắm lấy cổ áo Lêvi lắc mạnh làm chiếc mũ của y bay vèo đi...

Thế là đã rõ: những công thức vô giá, mục đích của chiếc khí cầu máy được phái đến đây, đã bị thằng nhãi trời đánh thánh vật kia cuỗm đi mất. Manxép lồng lộn:

- Những tài liệu của tôi! Những công thức của tôi! Tôi làm sao viết lại được nữa!... Tôi biết đưa cho Garin cái gì đây? Tôi đã quên hết rồi!

Lêvi lập tức ra lệnh đuổi bắt chú bé. Mọi người càu nhàu. Nhưng vẫn có mấy người đồng ý, Manxép dẫn họ đi. Lêvi ở lại, cắn cắn móng tay. Một lúc lâu sau, hai người trong số những người đi đuổi bắt trở lại.

Tuyết rơi ghê quá, không thể nào bước nổi.

- Các anh giấu Manxép đâu? - Lêvi thét to.

- Ai biết được... Lão ta trốn rồi.

- Đi tìm Manxép ngay. Tìm thắng bé ngay... Ai bắt được sẽ được thưởng một vạn đồng tiền vàng.

 

Mây đen che kín bầu trời. Đêm đến, gió mạnh dần. Viên đoàn trưởng phi hành đoàn lại dọa sẽ bay đi.

 

Cuối cùng, từ phía đám người đi đuổi bắt chú bé, một người cao lớn xuất hiện, áo ngoài phủ đầy tuyết, hai tay ẵm Ivan. Lêvi chạy bổ đến, tháo găng tay ra, luồn tay vào ngực áo chú bé. Ivan dường như đang ngủ, hai bàn tay cứng đờ của em áp chặt hộp sắt nhỏ vào ngực.

- Còn sống, còn sống, chỉ bị cóng một chút thôi, - người cao lớn nói. - Ta đưa nó lên chứ? - Và không đợi trả lời, ông ta ẵm Ivan vào khoang khí cầu máy.

- Thế nào? - viên đoàn trưởng phi hành đoàn hỏi vọng xuống. - Ta bay chứ?

Lêvi lưỡng lự ngước nhìn lên:

- Các anh sẵn sàng bay chưa?

- Xong hết rồi. - viên đoàn trưởng trả lời.

Lêvi lại ngoái nhìn một lần nữa về phía Manxép ra đi lúc nãy. Mây đen dầy đặc, tuyết bay lả tả. Dù sao thì các công thức cũng nằm trên khí cầu máy rồi.

- Ta bay thôi. - y vừa nói vừa trèo lên thang.

Động cơ nổ ầm ầm. Cánh quạt bắt đầu quay.

Đúng lúc đó, Manxép chạy vùng ra từ trong màn bão tuyết. Gió thổi dựng mái tóc ông ta lên. Hai tay giang ra của ông ta cố bám lấy khí cầu máy.

- Gượm đã!... Gượm đã! - Ông ta khàn khàn hét lên. Khi chiếc thang nhôm đã rời khỏi mặt đất chừng một mét, ông ta bám được bậc cuối cùng. Một vài người nắm lấy áo ông ta kéo lại. Ông ta đạp họ ra. Chiếc khí cầu máy chao đảo. Động cơ nổ inh tai. Cánh quạt giận dữ gầm rít. Chiếc khí cầu máy bay lên cao, vào những đám tuyết cuồn cuộn.

Manxép bíu vào bậc thang cuối. Ông ta bị kéo bổng lên. Ở dưới đất có thể nhìn thấy hai chân dạng ra của ông ta và vạt chiếc áo bay phần phật.

Ông ta bay được bao xa và bay đến độ cao nào thì ngã xuống - điều đó thì những người đứng ở dưới không thể nhìn thấy được.

 

92

 

Khom người qua ô cửa sổ chiếc khoang khí cầu máy bằng nhôm, Dôia nhìn qua ống nhòm. Chiếc khí cầu máy bay chầm chậm, vẽ thành một vòng tròn trên bầu trời xanh thẳm. Phía dưới, cách một nghìn mét, là đại dương trong xanh trải rộng mênh mông. Ở giữa là hòn đảo có hình dạng không cân đối mà từ trên cao, trông tựa như Châu Phi thu nhỏ lại.

Những chiếc tàu chở hàng thả neo ven bờ. Dôia đếm được hai mươi bốn chiếc - chúng tựa như đàn bọ hung đang ngủ trên mặt nước.

Hòn đảo bị cắt ngang dọc bởi những con đường mảnh như sợi chỉ - chúng tụ lại ở phần núi đá mạn Đông - Bắc đảo, nơi lấp lánh những mái nhà bằng kính. Đó là tòa lâu đài đang xây dở với ba hàng hiên chạy về phía sóng nước của một vịnh cát nhỏ.

Ở mạn Nam đảo thấp thoáng những công trình, những nhà cửa, những cần cẩu, những đường ray, những toa tầu nhỏ chạy đi chạy lại. Hàng chục động cơ gió quay tít. Khói bốc lên ngùn ngụt từ ống khói các nhà máy điện và các trạm bơm nước.

Giữa những công trình đó là miệng giếng mỏ hình tròn hiện lên đen đen. Tại đây, công việc chia làm sáu ca, diễn ra suốt ngày đêm: Garin đang đục thủng lớp bọc đá của vỏ trái đất. Sự táo tợn của y gần như là sự điên rồ. Dôia nhìn đám mây hơi nước trên giếng mỏ, chiếc ống nhòm rung rung trong bàn tay rám nắng của ả.

Mới nửa năm trước, hòn đảo còn là một bãi trống không, chỉ có cỏ gai và đá. Các con tầu đã đổ lên đảo hàng nghìn tấn phân hóa học, người ta đã đào các giếng phun và chở đến rất nhiều cây cối.

Từ trên cao, Dôia ngắm nhìn mảnh đất cô độc giữa đại dương, nay lấp lánh, rực rỡ, giữa những lớp bọt sóng trắng phau. Ả ngắm nhìn hòn đảo như một phụ nữ cầm trong tay một thứ đồ quý báu

 

93

 

Có bảy kỳ quan trên thế giới. Nhưng ký ức nhân dân chỉ truyền lại cho chúng ta có ba kỳ quan: đền thờ nữ thần Điana ở Êphétxơ, khu vườn treo ở Babilon và pho tượng khổng lồ bằng đồng ở Rôđôxơ. Về những kỳ quan khác thì kỷ niệm đã bị chìm xuống đáy Đại Tây Dương.

Kỳ quan thứ tám, như Dôia ngày nào cũng nhắc đi nhắc lại, phải là chiếc giếng mỏ trên đảo Vàng. Trong bữa ăn tại tòa lâu đài vừa xây dựng xong, với những cửa sổ lớn mở rộng đón gió đại dương, ả đã nâng ly nói:

- Chúc mừng kỳ quan của chúng ta, chúc mừng thiên tài và đầu óc táo bạo!

Tất cả đám người tinh hoa của hòn đảo đều đứng dậy chúc mừng Dôia và Garin. Ai cũng bị nhiễm không khí khẩn trương của công việc và của những ý đồ gần như huyền hoặc. Mặc cho bọn người ở các đại lục cứ việc làm om xòm lên về việc vi phạm pháp luật. Chẳng việc gì phải để ý đến chúng. Ở đây, giếng mỏ ngày đêm ầm ì, các gầu xúc ngày đêm hoạt động ầm ầm, ăn sâu mãi vào lòng đất, tiến sâu mãi về phía những trữ lượng vàng vô tận. Những mỏ sa khoáng ở Xibia, những khe xói ở Caliphonia, những bãi tuyết mênh mông ở Clônđaica - tất cả đều là trò trẻ. Vàng ở đây ngay dưới chân, tại bất kỳ chỗ nào, miễn là xuyên qua được các lớp đá hoa cương và vòng đai Ôlivin sôi sùng sục.

 

94

 

Mép phía trên của giếng mỏ được bọc một lớp vỏ thép. Những ống xilanh liền khối làm bằng thép khô nóng chảy được hạ dần xuống giếng theo mức sâu của nó. Chúng xuống đến chỗ nhiệt độ trong giếng mỏ tăng lên tới ba trăm độ. Tình huống đó xảy ra bất ngờ, đột ngột, tại độ sâu năm cây số.

Một kíp nhân công bị chết và hai bộ máy phát tia bị thiêu hủy ở đáy giếng mỏ.

Garin bực bội. Việc hạ các ống xilanh và hàn chúng với nhau làm chậm trễ công việc. Giờ đây, khi thành giếng bị nung nóng, nó được làm mát bằng không khí nén và khi nguội đi thì bản thân thành giếng cũng tạo thành một lớp vỏ bọc vững chắc.

Đường kính giếng mỏ không lớn lắm - chỉ độ hai mươi mét. Bên trong giếng là một hệ thống phức tạp gồm những đáy thông hơi, những thiết bị chống, những mạng dây dẫn, những bệ để bộ phận vận chuyển và những bệ đặt các máy chế không khí lỏng và các bộ máy phát tia.

Tất cả các thiết bị, máy móc ấy đều chạy bằng điện. Ở hai bên thành giếng mỏ có đục nhiều hang làm kho chứa máy móc và làm chỗ nghỉ ngơi cho công nhân. Để giảm bớt gánh nặng cho giếng mỏ chính, Garin ra lệnh đào một giếng mỏ thứ hai, song song với giếng mỏ chính và có đường kính sáu mét - nó nối liền các hang với nhau bằng những thang máy chạy với tốc độ cực nhanh.

Phần quan trọng nhất của công việc là khoan giếng. Việc khoan giếng được thực hiện bằng tác động đồng bộ của các tia do các bộ máy phát tia phát ra, của việc làm nguội bằng không khí nén và của việc múc đất đá lên bằng máy nâng. Mười hai bộ máy phát tia có cấu tạo đặc biệt liên tục xuyên thủng và làm nóng chảy các lớp đất đá, những đất này lập tức được dòng không khí lỏng làm mát đi, tan vụn ra và tràn vào những gầu xúc của các máy nâng.

 

 

95

 

Tòa lâu đài ở phần Đông - Bắc đảo Vàng được xây dựng theo những kế hoạch đầy hoang tưởng của Dôia.

 

Đó là một công trình đồ sộ bằng thủy tinh, thép, đá màu huyết dụ và đá hoa, gồm năm trăm phòng to phòng nhỏ. Phần mặt trước với hai dẫy cầu thang xây bằng đá hoa nhô hẳn ra biển. Sóng biển vỗ vào các hàng bậc và trụ chống quanh hai cầu thang, nơi thay cho những pho tượng và những chiếc độc bình thông thường là bốn ngọn tháp bằng đồng, có chấn song bao kín, nâng bốn khối cầu mạ vàng, mà bên trong đặt những bộ máy phát tia đã nạp điện sẵn, đe dọa những cửa ngõ từ phía đại dương tiến vào.

 

Hai chiếc cổng bằng đồng dẫn vào trong hòn đảo. Đó vừa là ngôi nhà vừa là pháo đài. Bên cạnh, trên núi đá, sừng sững một ngọn tháp có chấn song, cao trăm rưỡi mét, được nối bằng lối ngầm với phòng ngủ của Garin. Trên mặt bằng cao ở đỉnh tháp có bố trí những bộ máy phát tia cực mạnh. Một thang máy bọc thép chạy từ mặt đất đến đỉnh tháp chỉ trong vài giây. Tất cả mọi người, ngay cả Dôia, đều bị cấm ngặt không được đến gần chân tháp. Đó là pháp lệnh đầu tiên của đảo Vàng.

 

Bên cánh trái tòa lâu đài là dãy phòng của Dôia, còn bên cánh phải là dãy phòng của Garin và Rôlinh. Không một ai được sống ở đây nữa. Tòa lâu đài dành cho những lúc mà một kẻ người trần mắt thịt nào đó được hưởng vinh dự lớn lao là được mời đến đảo Vàng để chiêm ngưỡng khuôn mặt đẹp lộng lẫy của nữ chúa tể thế giới.

 

Dôia đã chuẩn bị để đóng vai trò này. Công việc ngập đầu ả. Ả soạn thảo một bộ luật về nghi thức: lúc dậy buổi sáng, những cuộc đi dạo, những buổi chiêu đãi lớn nhỏ, những bữa ăn, những hội hóa trang, những cuộc vui chơi giải trí. Tính cách diễn viên của ả được bộc lộ rộng rãi. Ả thích nhắc đi nhắc lại rằng ả sinh ra là để biểu diễn trên sân khấu có quy mô toàn thế giới.

 

Ngoài hai điều luật có tính chất nội bộ ở lâu đài này, ả còn cùng Garin soạn thảo "Bộ luật thế kỷ Hoàng Kim" - bộ luật của nhân loại tương lai. Nhưng đó mới chỉ là những đề án chung và những tư tưởng chính mà về sau còn phải được các nhà luật học hoàn chỉnh.

Garin bận tối mắt. Y thường trở về thẳng từ giếng mỏ, mệt rã rời, bẩn thỉu, người sặc mùi đất và mùi dầu máy. Y vội vã ăn uống rồi ngả người trên chiếc đi văng nhung, hối hả hút thuốc, nhả khói mù mịt (y được phép không phải tuân theo nghi thức, những thói quen của y là thiêng liêng và không ai được bắt chước).

Để tham khảo ý kiến về một vài vấn đề, người ta mời thêm Rôlinh. Y sống trong một dãy phòng lộng lẫy nhưng chưa xây xong hẳn. Y chỉ ra ngoài vào bữa ăn. Ý chí và niềm kiêu hãnh của y đã bị bẻ gãy. Y gầy xọp đi trong nửa năm qua. Y sợ Garin, y tránh mặt đối mặt với Dôia. Không ai biết y làm gì trong những ngày dài đằng đẵng ấy, mà cũng chẳng ai quan tâm đến chuyện đó. Người ta đồn là y bắt đầu ham mê sưu tập các tẩu thuốc.

Ý chí y bị bẻ gẫy không phải vì y bị mất ba trăm triệu đô la, không phải vì y bị giam giữ trên đảo Vàng và thậm chí không phải vì sự phản bội của Dôia. Hai mươi lăm năm trước đây, y đã từng bán xi đánh giày trên hè phố. Y biết cách chiến đấu và ưa thích chiến đấu. Y đã dồn biết bao nỗ lực, tài năng và ý chí để vàng chảy như suối vào két sắt của công ty "Anilin Rôlinh".

Vậy mà đột nhiên cái thứ vàng ấy, cái thước đo sức mạnh và hạnh phúc ấy, lại sẽ được múc lên như đất sét, như đất bùn, và múc lên bao nhiêu tùy ý. Và thế là Rôlinh cảm thấy như bị hẫng chân, cảm thấy mình không còn là chúa tể của thiên nhiên. Chỉ còn một cách là đi sưu tập tẩu thuốc thôi.

Nhưng theo lời yêu cầu của Garin, y vẫn ra lệnh hàng ngày qua đài phát sóng cho ban giám đốc công ty "Anilin Rôlinh". Những câu trả lời của họ rất mơ hồ. Ngày càng rõ ràng rằng ban giám đốc của y không tin vào việc y tự nguyện sống biệt lập trên đảo Vàng. Họ hỏi y:

"Cần phải làm gì để đưa ngài trở lại lục địa?"

Y trả lời:

"Đợt điều trị chứng rối loạn tinh thần đang đem lại kết quả tốt đẹp".

 

Theo lệnh y, các ngân hàng xuất thêm năm triệu bảng Anh nữa. Nhưng hai tuần sau, khi y lại ra lệnh xuất một số tiền như vậy, thì mấy nhân viên của Garin bị bắt lúc xuất trình tờ séc của Rôlinh. Đó là tín hiệu đầu tiên báo hiệu cuộc tiến công của lục địa vào đảo Vàng. Một hạm đội gồm tám tuần dương hạm tuần tiễu trên Thái Bình Dương, gần hai mươi hai độ vĩ Bắc và một trăm ba mươi độ kinh Tây, đang sẵn sàng chờ mệnh lệnh chiến đấu.