Z.28 Bản Án Tử Hình

Chương VIII (tt)

Docsach24.com
ột phút sau, Cẩm Phượng ưỡn ẹo đứng trên ngưỡng cửa. Nàng nhoẻn miệng cười với Lê Tùng.

Giọng nàng ỏn ẻn:

- Anh dùng cam vắt nhé?

Lê Tùng đơ người:

- Vâng.

Chu Nghị phê bình:

- Cẩm Phượng chỉ có cái eo đẹp, còn mặt thì tầm thường. Tối nay, tôi sẽ đưa đến phòng anh một cô bé đẹp gấp hai.

- Sau này chắc anh làm chủ nhà chứa.

- Bây giờ, tôi đang làm nghề này. Nghề cung cấp gái đẹp cho giới thượng lưu ở Hồng Kông.

- Sướng thật! Món nào ngon, anh đã nếm trước.

- Không đâu. Anh lầm to rồi. Không tin, anh hỏi Cẩm Phượng. Tôi làm nghề cung cấp gái đẹp, song lại rất ghét gái đẹp. Nói chung, tôi rất ghét đàn bà.

- Nguyên nhân?

- Tôi không thích, thế thôi. Có lẽ vì nhìn quá phát ngấy. Ngấy muốn lộn mửa.

Cẩm Phượng bưng khay giải khát vào. Nàng lại cười với Lê Tùng lần nữa.

Lê Tùng không cười lại. Chàng nhớ lại đêm mưa gió lạnh lùng trên bờ sông Bến Hải. Chỉ còn tuần lễ nữa là Tết Nguyên Đán. Trời tối như hũ nút. Như thường lệ, chàng đợi Trần Hiệp trên bờ nam, ở địa điểm AQ-19. Trần Hiệp, mang số hiệu 307, là nhân viên tình báo của ông Hoàng ở phía bắc vĩ tuyến 17.

Vượt sông Bến Hải là công việc cơm bữa của nhân viên tình báo. Trần Hiệp biết rõ họa đồ phòng thủ của Cộng sản dọc bờ bắc nên chàng qua sông như đi chợ. Hơn nữa, Hiệp lại là bạn thân của thiếu tá Phan Lộ, chỉ huy phản gián giáp tuyến.

Thế mà đêm ấy Trần Hiệp bị bắt. Bị bắt trong khi sửa soạn sang sông gặp Lê Tùng. Bị bắt vì nội phản. Vì địch đã biết trước. Hoạt động với Trần Hiệp đã lâu, chàng không quên được nếp sống giản dị, say sưa với nghề nghiệp của người thanh niên khả ái và nhũn nhặn ấy. Hiệp là nhân viên của ông Hoàng trước hiệp định Giơ neo. Sauk hi Sở rút vào Nam, Hiệp ở lại Hà Nội, núp sau một chức vụ quan trọng trong thành bộ đảng Lao động, chờ cơ hội hoạt động tình báo.

Theo kế hoạch, chàng sẽ liên lạc với trú sứ ẩn tế của Sở tại Hà Nội, khi có cơ hội hoạt động. Chàng được thu dụng làm phóng viên báo Nhân dân, cơ quan ngôn luận chính thức của trung ương đảng Lao động. Chàng thu thập được nhiều tin tức, song không thể gửi cho ông Hoàng vì bị mất liên lạc với trú sứ ẩn tế. Nhân viên giao liên của trú sứ đã bị tử thương trong một chuyến công tác dọc bờ biển.

Trần Hiệp được phái qua Lào để làm phóng sự về tình hình chiến sự và chính trị. Và chàng đã tìm cách liên lạc với Lê Tùng.

Chu Nghị hỏi:

- Trần Hiệp có chân trong tổ chức của ông Hoàng từ 1950 phải không?

Lê Tùng đáp:

- Phải. Cuối năm 1950. Sau khi biết chắc căn cước của người bán tài liệu, tôi liền phúc trình về Sài Gòn.

- Chỉ thị của ông Hoàng về việc tiếp xúc với Trần Hiệp ra sao?

- Tôi luôn luôn để trong xe một cuốn Tuyển tập Mao Trạch Đông, do nhà Văn học ở Hà Nội xuất bản, bìa gáy da màu đỏ, bên trong găm một cái khăn tay màu vàng rơm. Trên mù soa mật lệnh liên lạc được viết bằng mực bí mật. Theo mật lệnh này, Trần Hiệp phải gặp tôi đúng 3 ngày, sau khi nhận được, tại công trường xế cửa phòng Thông tin Vạn Tượng, vào lúc 8 giờ tối. Và Hiệp đã y hẹn.

- Những tài liệu gửi cho ông Hoàng, Trần Hiệp đã lấy ở đâu?

- Trong tủ sắt của tòa đại sứ Bắc Việt.- Ai lấy? Trần Hiệp phải không?

- Không, Hiệp kết nạp được viên đệ nhị tham vụ.

- Tên hắn là gì?

- Hồ Vân, Đảng viên trung kiên của đảng Cộng sản Đông dương. Từng thụ huấn tại Mạc Tư Khoa, tốt nghiệp trường Ngoại ngữ Tình báo Sô Viết.

- Tại sao hắn phản?

- Vì chán ghét chế độ cộng sản một phần, phần khác vì tiền. Qua trung gian của Trần Hiệp, tôi đã trả trên 20.000 đô la cho Hồ Vân. Và tôi đã nhận được 10 cuộn phim cả thảy. Nhờ thế tôi đã phăng ra toàn bộ tổ chức tình báo của tòa đại sứ Bắc Việt trên đất Lào. Một phái đoàn đặc biệt được gửi từ Sài Gòn lên, lần lượt hạ sát những chuyên viên do thám cao cấp của Bắc Việt. Đại sứ Lê Văn Hiến mở cuộc điều tra, song không tìm ra manh mối. Trong khi đó, tham vụ Hồ Vân được triệu hồi.

- Hắn bị ngờ vực ư?

- Không. Vì lẽ giản di, hắn có họ gần với Lê Thị Xuyến, vợ đại sứ Lê Văn Hiến, và là ủy viên trung ương Đảng. Đại sứ Lê Văn Hiến tin cậy hắn triệt để, và còn ủy cho hắn điều tra nội vụ.

- Trời!

- Hồ Vân bị gọi về vì y mắc bệnh đau gan nặng. Có lẽ vì trác táng quá nhiều. Sợ bị ung thư gan, hắn xin về Hà Nội điều trị. Để bảo vệ an ninh cho hắn, ông Hoàng đã lập kế ly gián, đổ tội cho một nhân viên của ban Mật mã trong tòa đại sứ Bắc Việt, Trần Hiệp bí mật giết người này, rồi ngụy trang vụ ám sát thành tự sát, kèm theo một tờ thú tội. Kế hoạch ly gián hoàn toàn thành công.

Hồ Vân chữa bệnh tại nhà thương Bạch Mai từ tháng 11-1964 đến tháng 3-1965 mới bình phục. Để tiếp tục móc nối với Hồ Vân, tôi được phái lần nữa ra Hà Nội, điều khiển trú sứ ẩn tế ở đó. Nhưng…

- Hắn bị bắt?

- Không. Hắn không bị bắt. Tôi hoạt động với hắn được đúng 3 tháng. Hầu hết các tài liệu mật của Bộ ngoại giao Hà Nội đều được chuyển cho tôi và gửi về Sài Gòn. Đột nhiên, hắn từ trần vì bệnh đau tim.

- Bệnh đau tim? Anh chắc không?

- Sau khi hắn chết, tôi hỏi người nhà, và họ cho biết là hắn đang ngồi trên ghế thì gục xuống tắt thở. Nhật báo Thời Mới cũng loan tin trong mục phân ưu là Hồ Vân thất lộc vì bệnh tim.

Cặp mắt của Chu Nghị bỗng quắc lên một cách dữ tợn. Hắn gập cuốn sổ tay lại, đứng lên, giọng cộc lốc:

- Hôm nay, tạm xong. Hẹn anh đến sáng mai.

Lê Tùng hỏi:

- Tôi ra phố chơi được không?

- Được. Song phải có nhân viên của tôi đi theo. Vả lại, lát nữa anh phải đến lấy phòng tại lữ quán. Tôi đã làm sẵn thông hành giả cho anh, ngân hàng Tổng hạt ở Thụy Sĩ sẽ chuyển  tiền về lữ quán. Tôi đã giữ phòng trước cho anh tại lữ quán Quốc tế (I).

Ra phòng ngoài, Lê Tùng gặp hai gã đàn ông mặc sơ mi bỏ ngoài quần. Nhìn lưng chúng cồm cộm, chàng biết chúng đeo sung. Chàng quay về phía Chu Nghị:

- Yêu cầu anh minh xác: tôi là đồng minh hay là tù nhân của anh?

Chu Nghị nhìn chàng, vẻ ngạc nhiên:

- Anh hỏi lạ. Tôi coi anh là thượng khách. Tại sao anh lại có ý nghĩ là tù nhân của tôi?

Lê Tùng buông thong:

- Hừ, nếu không là tù nhân, tại sao nhân viên của anh lại đeo súng trong áo?

Mặt Chu Nghị tỏ ra ngượng ngập:

- Họ đeo súng để bảo vệ an ninh cho anh.

- Cám ơn., Tôi không phải là cô gái dậy thì, sợ cao bồi chọc ghẹo dọc đường.

- Biết đâu người ta chẳng tìm cách hạ sát anh!

- Đồng ý. Nhưng tôi không tin hai chú bị thịt, giá áo túi cơm này đủ tài làm vệ sĩ.

Một tên trợn mắt:

- Phiền anh giữ miệng. Bản tính tôi rất nóng nảy.

Lê Tùng cười khẩy:

- Tôi cũng vậy. Hạng người dài lưng tốn vải như anh chỉ ăn một quả đấm là xụm xương.

Hắn nhảy xổ lại. Chu Nghị gạt ra:

- Đừng thất lễ với khách.

Lê Tùng cười khanh khách:

- Không sao. Xin phép anh Chu Nghị cho tôi được múa may vài phút cho khỏi ngứa ngáy.

Vừa nói, chàng vừa đấm dứ một cái. Tên vệ sĩ né sang bên, giáng bàn tay kếch sù xuống. Hắn đã mắc mưu chàng như đứa trẻ. Chờ bàn tay của hắn gần chạm vai, chàng nghiêng người tóm lấy, giật lui thật mạnh. Hắn húc đầu vào tường, rồi nằm quay lơ trên nền nhà. Tên thứ hai hùng hổ xông vào. Lê Tùng khoèo chân nhẹ nhàng như đùa bỡn, hắn chổng bốn vó lên trời. Chu Nghị vỗ tay khen ngợi:

- Anh giỏi thật. Đáng tiếc anh không là nhân viên của tôi.

Lê Tùng nghiêm mặt:

- Anh thừa hiểu tôi không bao giờ làm nhân viên cho anh. Nhân tiện, cũng báo anh rõ, tôi không thích đi cặp kè với hai của nợ này. Nếu anh muốn, anh cứ cho chúng theo sau. Còn tôi, tôi chỉ bằng lòng đi với Cẩm Phượng.

Chu Nghị gượng cười:

- Vâng, tôi chiều ý anh. Cẩm Phượng sẽ lái xe đưa anh xuống lữ quán. Còn hai vệ sĩ đi xe khác.

Cẩm Phượng run rẩy bước ra, thân thể tròn lẳn trong cái áo dài Tàu bằng tơ tằm, may sát vào thịt. Phục sức khêu gợi đến thế là cùng! Nàng cầm tay chàng, cử chỉ thân mật như vợ với chồng:

- Mời anh ra xe với em.

Xe của Cẩm Phượng là một chiếc Moretti nhỏ xíu, mui trần, sơn màu mát tích dịu mắt. Nàng buộc cái băng đô lên đầu cho khỏi bay tóc rồi lái ra khỏi ga-ra. Chiếc Mercedes của hai vệ sĩ lừ lừ chạy theo. Chàng ngồi sát vào người nàng, gợi chuyện:

- Cô Phượng ơi!

Nàng phá lên cười:

- Anh muốn gì, cứ nói đi. Em không ngờ một người như anh lại tán gái một cách văn vẻ như thế!

- Tôi cũng không ngờ. Không ngờ một người như cô lại làm đầu bếp và con sen cho Chu Nghị.

Bản tâm của chàng là chọc tức Cẩm Phượng. Song nàng vẫn thản nhiên:

- Tài xế của tùy viên quân sự Xô Viết tại Hoa Thịnh Đốn là một trung tá. Một sĩ quan KGB đã đóng vai gác cửa. Cho nên, em làm con sen không phải là chuyện lạ.

- Em là thuộc viên của Chu Nghị?

- Không.

- Hay em là thượng cấp?

- Cũng không.

- Em bí mật ghê.

- Dĩ nhiên. Anh cũng đừng hỏi tò mò nữa. Vì em không trả lời đâu. Cũng như anh, em được huấn luyện trong trường tình báo và em ở trong nghề đã lâu. Nếu anh cần an ủi, em xin sẵn sang. Luôn luôn sẵn sang. Vả lại, được thương yêu một thanh niên đẹp trai và lịch thiệp như anh là điều hân hạnh.

- Giả sử anh là một lão già khọm khẹm và thô bỉ?

- Nhiệm vụ mà anh. Tuy nhiên, em được quyền lựa chọn. Trong quá khứ, em đã thẳng tay từ chối nhiều lần. Lần này, vừa nghe Chu Nghị yêu cầu, em nhận lời liền. Và em muốn kéo dài thời kỳ hạnh phúc này mãi.

Cẩm Phượng lái qua đại lộ Carnarvon. Đột nhiên, Lê Tùng nói:

- Em cho anh xuống một chút.

- Anh đi đâu? Chu Nghị dặn đưa anh đến lữ quán Quốc tế kia mà…

- Anh muốn vào Trung tâm Ngọc Thạch (1) mua tặng em cái nhẫn.

- Sợ Chu Nghị phàn nàn. Thôi, tuần sau xong việc mua cũng được.

- Mặc kệ Chu Nghị. Người đàn ông văn minh không thể quên được cảm tình đặc biệt của em đêm qua.

Cẩm Phượng lặng thinh. Lê Tùng xuống xe. Chiếc Mercedes đậu xịch phía sau. Hai tên vệ sĩ kèm sát Lê Tùng. Chàng thản nhiên tiến lại quầy hàng. Chàng chăm chú quan sát người bán hàng: mắt đeo kính râm Nylor gọng vàng, giây ni lông, miệng ngậm tẩu Falcon - loại tẩu cán sắt – màu nâu, mặc sơ mi ngắn tay kiểu Mỹ màu đỏ ca rô, cổ áo gài 2 nút.

Người bán hàng cũng chăm chú quan sát chàng: sơ mi dài trắng, xắn tay, để lộ ở cổ tay trái một cái đồng hồ Seiko của Nhật tự động, đeo ngược, bàn tay phải để lên mặt kính, ở móng tay cái có một vết đen, trên miệng phì phèo điếu Benson mới đốt, và cũng ngược đầu. Hắn hỏi chàng:

- Ngài mua gì?

Chàng đáp:

- Tôi muốn tìm một cái nhẫn.

- Hạt soàn hay ngọc thạch?

- Hạt soàn. Từ 5 đến 7 li.

- Vâng. Xin ông đợi một phút.

Hai tên vệ sĩ đứng sát Lê Tùng, mặt lầm lầm. Cẩm Phượng rút thuốc lá ra hút. Người bán bày ba cái hộp nhung đỏ lên bàn. Lê Tùng cầm cái nhẫn ở giữa lên coi trước. Chàng nheo mắt, lấy kính lúp soi cẩn thận. Xong xuôi, chàng soi cái bên trái. Rồi chàng đặt xuống, nhún vai:

- Cái nào cũng bị than.

Người bán xoa tay:

- Vâng. Chúng tôi chưa cắt kịp. Xin ông cho địa chỉ, tối nay chúng tôi mang lại tận khách sạn.

Cẩm Phượng nói:

- Thôi, cám ơn ông, khi khác chúng tôi sẽ quay lại.

Lê Tùng chào người bán, rồi quay ra. Đến cửa, chàng nhác thấy một con bướm vàng tây, nạm ngọc thạch tuyệt đẹp. Chàng hỏi giá. 95 đô la Mỹ. Lê Tùng lại két, xỉa tờ trăm mỹ kim, trong khi người bán gói cái hộp xin xắn, kính cẩn đưa tận tay cho Cẩm Phượng.

Trèo lên xe, Lê Tùng khoan khoái lạ thường. Công việc khó khan nhất của chàng trong thời gian lưu lại Hồng Kông đã hoàn tất. Chàng vừa thông tin được với ông Hoàng. Người bán hàng phục sức kì dị này là nhân viên của Sở, có nhiệm vụ chờ chàng. Trong khi hai tên vệ sĩ hối hả nổ máy, người bán hàng tiến ra ngoài, nhìn số xe. Một phút sau, y quay vào trong nhà, gọi điện thoại.

Người ở đầu dây nghe y nói, không đặt câu hỏi,  cũng không ngắt quãng. Y nói xong, người này mới cất tiếng:

- Cảm ơn. Tôi đã biết xe của ai rồi. Anh không cần bố trí rượt theo nữa.

Cẩm Phượng cười vang như đứa trẻ. Lê Tùng nhẹ hôn vào má nàng. Trời Hồng Kông trong và cao như ở bãi biển Nha Trang một ngày mùa hè rực nắng.

*  *  *

9 giờ sáng hôm sau. Khác lần trước, Chu Nghị giữ vẻ mặt lầm lì khi bắt tay Lê Tùng. Cùng đi với hắn là một người đàn ông đeo kính đen to tướng, cằm vuông, tay xách cặp da, mặc com lê chỉnh tề. Vào phòng, người lạ ngồi xuống ghế.

Chu Nghị nói:

- Giới thiệu với anh đây là một đặc phái viên từ Trung ương tới.

Không cần đợi Lê Tùng đáp, người lạ mở cặp lấy một xấp giấy đánh máy đặt lên bàn, rồi nói giọng đều đều:

- Tôi đã nghiên cứu lời khai của anh. Sở dĩ tôi đến đây là để hỏi thêm một vài chi tiết. Những lời anh nói hôm qua đã chứng tỏ sự thành thật của anh.

Lê Tùng cướp lời:

- Ăn cây nào, rào cây ấy vẫn là phương châm hành động của tôi. Các anh thỏa thuận trả giá cao, tất tôi phải cố gắng bán những món hàng thật tốt.

Người lạ mặt, giọng nghiêm nghị:

- Anh hiểu được thế thì còn gì bằng. Tuy nhiên,  anh chỉ mới thành thật một nửa.

- Hừ, tôi không muốn ai ngờ vực thiện chí của tôi.

- Tôi cũng không thích những lời bào chữa liều lĩnh. Lời khai của anh đã được ghi lại, không thiếu một dấu chấm, phết. Anh đã khai nhiều chi tiết, song những chi tiết này đều vô dụng, hoàn toàn vô dụng. Tôi hy vọng đây không phải là sự cố ý.

- Dẫn chứng?

- Không thiếu gì. Lời khai của anh hoàn toàn vô dụng vì anh chỉ nói đến những điều chúng tôi đã biết và những người đã chết. Về vụ nhảy dù xuống Quỳ Châu, anh nói được YS. 74 đón dưới đất, và YS. 82 phụ tá tại Cầu Giát, tôi đã phối kiểm với Trung ương, và được biết hai người này đã thiệt mạng. Anh có ba nhân viên nòng cốt ở Vạn Tượng là cô Quỳnh Thái, Phi Sơn và Tấn Lạc thì Quỳnh Thái chết rồi, Phi Sơn bị triệu về Sài Gòn, Tấn Lạc từ chức.

Làm nghề này, đã vào rồi, ra không được nữa, trừ phi là nhân viên cấp dưới, hoặc bị trục xuất, như anh chẳng hạn. Tấn Lạc là nhân viên cấp dưới, sẽ chẳng giúp chúng tôi được gì. Trần Hiệp cũng bị giết. Nghĩa là anh nói sao, chúng tôi phải tin vậy, không có phương pháp nào xác định là sai hay đúng.

- Hoài nghi nhau thì thôi. Tôi sẵn sang trả lại tiền.

- Tôi không ngờ vực anh. Song ở vào địa vị tôi, anh cũng phải đặt ra nghi vấn. Vả lại, chúng tôi cần anh cung cấp một vài tin tức đặc biệt, ngoài  các tin tức chúng tôi đã có. Chẳng hạn về trường hợp tham vụ sứ quán Hồ Vân. Theo hồ sơ của sở Phản gián, y không chết vì bệnh tim mà là bị ám sát. Hồ Vân bị ám sát để bảo toàn bí mật. Trong thời gian ở Hà Nội anh gặp y mấy lần?

- Hai lần.

- Còn Trần Hiệp?

- Tôi gặp Trần Hiệp ba lần.

- Chúng cung cấp cho anh những tài liệu gì?

- Tài liệu liên quan đến bộ Ngoại giao, tổ chức tâm lý chiến, bộ Quốc phòng và các phiên nhóm mật của ủy ban Trung ương Đảng.

- Cảm ơn anh đã nói thật. Hồ Vân là nhân viên ngoại giao. Trần Hiệp tòng sự tại tòa soạn Nhân Dân, thì tài liệu của chúng chỉ có thể liên quan đến bộ Ngoại giao và tâm lý chiến. Tại sao chúng có tài liệu liên quan đến Bộ Quốc phòng và ủy ban Trung ương Đảng.

- Tôi hỏi thì họ trả lời là móc nối được một số viên chức của Bộ Quốc phòng và ủy ban Trung ương.

- Các viên chức này là ai?

- Hồ Vân không cho tôi biết. Theo sự cam kết bằng miệng, tôi không được quyền hỏi y về xuất xứ của các tin tức. Sau đó, y từ trần.

- Ông Hoàng có ra lệnh cho anh tìm hiểu xuất xứ tin tức hay không?

- Không.

- Tại sao anh không hỏi Trần Hiệp?

- Y hoạt động riêng, không nằm trong hệ thống của tôi. Tôi chỉ có nhiệm vụ chuyển giao tài  liệu và tin tức do y thu thật về Sài Gòn mà thôi.

Người lạ mặt cười nhạt:

- Ông Hoàng không ra lệnh cho anh căn vặn Hồ Vân và Trần Hiệp vì lẽ giản dị ông ta đã biết rõ. Và chúng tôi cũng muốn biết rõ ai đã trao tài liệu cho Vân và Hiệp. Anh đoán được ai không?

Lê Tùng đáp:

- Việc này ngoài phạm vi của tôi.

Người lạ mặt nín lặng, đưa ngón tay ra hiệu cho Chu Nghị lên tiếng.

- Anh về Sài Gòn khi nào?

Lê Tùng đáp:

- Tháng 6-1965.

- Tại sao anh về?

- Dường như tôi bị lộ. Nhận được chỉ thị hỏa tốc của ông Hoàng, tôi phải lên đường ngay.

- Bị lộ như thế nào?

- Hồi ở Bắc Việt, tôi đội lốt thiếu tá quân đội, có đủ giấy tờ cần thiết, và đi lại tự do. Tôi không lưu lại nơi nào lâu, một tuần ở Hà Nội, một tuần ở Thanh Hóa, một tuần ở Vinh. Đêm ấy, tôi đi bộ đến chợ Hôm để gặp một nhân viên liên lạc. Giờ hẹn được định là 9 giờ. Từ ga xe điện Bờ Hồ xuống chợ Hôm, tôi biết là bị theo, tôi bèn đổi xe lên Cầu Giấy, nhưng vẫn bị bám sát. Tôi đành phải bỏ cuộc hẹn, và sáng sớm trốn vào Thanh Hóa. 4 ngày sau, tôi quay lại Hà Nội thì được tin nhân viên liên lạc của tôi đã bị bắt. Người này chỉ biết tôi, không biết nhân viên nào khác trong tổ chức, nên tôi phải trốn vào Nam để bảo vệ tổ chức.

- Đêm bị bắt ở vĩ tuyến 17, Trần Hiệp vượt song Bến Hải làm gì?

- Để trao những tài liệu về hệ thống bố phòng tại Liên khu IV, bao gồm các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Bình.

- Nghĩa là khu vực Cựu kim sơn.

Lê Tùng chột dạ. Nếu không giàu nghị lực, chàng đã giật mình, tái mặt. Vì Cựu kim sơn là danh từ bí mật chỉ Liên khu IV. Biết được danh từ này, đối phương không nhiều thì ít đã phăng ra hệ thống điệp báo của ông Hoàng ở phía Bắc cầu Hiền Lương, ngăn đôi hai miền Nam, Bắc. Chàng gắng đáp bình thản:

- Vâng. Cựu kim sơn. Sau khi về Sài Gòn, tôi được phụ trách hệ thống Cựu kim sơn.

- Tại sao Trần Hiệp bị bắt?

- Ông Hoàng cho biết có nội phản.

- Z309 bị bắn chết trong khi vượt sông Bến Hải cũng vì nội phản?

- Vâng. Điều này làm tôi vô cùng ngạc nhiên. Z 309 là thanh tra công an, có uy tín và thế lực tại Liên khu IV, lại là người đồng hương và bạn thân của chủ tịch Ủy ban Hành chánh liên khu. Về hoạt động đoàn thể, y đã trèo lên tới cấp tỉnh ủy, và chủ tịch phân hội Việt Sô hữu nghị, hội Đoàn kết Á Phi.

Cách hai tháng một lần, y được chính quyền khu cử đi thanh tra các đơn vị công an nhân dân đồn trú tại vùng giáp tuyến. Đêm ấy, y dự liên hoan tại trụ sở công an, rồi lấy xe dip nói là đi tuần một vòng dọc bờ song. Y vẫn đi tuần như vậy là thường. Đến chỗ hẹn, y đậu xe, sửa soạn băng qua song. Vào giờ ấy, nước sông chỉ mấp mé đầu gối. Y mới xa bờ được 3 thước thì bị một tràng tiểu liên quét gục.

- Còn vụ Cửa Tùng?

- Vụ này xảy ra đúng một tuần sau khi Z 309 bị hạ sát trên sông Bến Hải. Z 308 là một nhân viên trong đội công an duyên hải. Chức vụ chính thức của y rất lợi cho chúng tôi vì y đã cung cấp họa đồ bờ biển Liên khu IV, và nhất là hệ thống phòng vệ duyên hải của nhà cầm quyền Bắc Việt. Nhờ Z 308, ông Hoàng đã có thể chở người nhái bằng tàu ngầm đến ngoài khơi Sầm Sơn, Du Xuyên, Bến Thủy, Cầu Giát, và Cửa Tùng, thả họ lên bờ phá hoại.

Z 308 điện vào cho ông Hoàng, báo cáo là đã bị lộ. Tôi được lệnh đến đón y ngoài khơi Cửa Tùng trên một tiềm thủy dĩnh xì gà. Theo chương trình, 308 phải chèo thuyền khỏi bãi biển nửa cây số để xuống tàu ngầm. Chờ y mãi không thấy tăm hơi, tôi đành bơi xuồng cao su vào bãi cát.

- Rồi lọt vào ổ phục kích.

- Vâng. Suýt nữa tôi mất mạng. Một toán công an duyên hải đã chờ tôi trong rừng phi lao. Nhờ trời tối, tôi thoát được ra khơi, tuy nhiên một thiếu úy hải quân làm vệ sĩ cho tôi đã bị trọng thương.

- Z 308 bị bắt hay bị giết?

- Bị giết.

- Kỳ quặc thật? Theo nguyên tắc nghề nghiệp, phải bắt sống, không bao giờ bắn chết điệp viên của địch. Vì phải bắt sống để khai thác tin tức. Đằng này, toàn thể đều bị giết. Anh có cho lạ không?

- Theo tôi, sở dĩ họ bị giết vì đã kháng cự lại quyết liệt. Trần Hiệp lợi dụng một phút lơ đễnh  của công an để tự sát. 309 đã bắn vào nhân viên tuần phòng trên bờ bắc song Bến Hải, 308 cũng vật lộng với công an duyên hải gần 10 phút trước khi bị bắt.

Chu Nghị từ tốn nâng ly rượu lên môi. Người lạ mặt đứng dậy ra lệnh:

- Tôi đi đây. Anh tiếp tục hỏi về công tác tài chính H-4, chiều nay cho tôi biết kết quả.

Chu Nghị đưa người lạ mặt ra cửa. Người lạ mặt đi thẳng, thái độ lạnh lung, pha vẻ hợm hĩnh, không cáo từ Lê Tùng, cũng như không bắt tay Chu Nghị.

Chờ Chu Nghị ngồi xuống, Lê Tùng phê bình:

- Anh chàng này phách lối quá! Nếu không nể anh, tôi đã nhổ nước bọt vào mặt hắn.

Chu Nghị buột miệng:

- Sao anh dám đả kích đại tá?

- Hắn là đại tá? Đại tá nào?

Chu Nghị tái mặt:

- Lẽ ra tôi không được quyền tiết lộ. Tuy nhiên, tôi không nói thì trước sau anh cũng biết. Đó là đại tá Tú, phụ tá cho Bùi Vinh. Đã hoạt động tại Bắc Việt, anh phải biết Bùi Vinh.

- Vâng, Bùi Vinh là cánh tay phải của Phan Thiện, con hùm xám phản gián ở phía Bắc vĩ tuyến 17. Tuy đại tá Tú là phụ tá của Bùi Vinh, tôi vẫn không ngửi hắn được. Trong nghề tình báo này, chẳng biết mèo nào cắn mỉu nào. Vả lại, tôi rất ghét những kẻ lên giọng cha chú.

- Thôi, đồng chí. Bớt giận làm lành. Mấy ngày nữa, anh sẽ khỏi phải thấy mặt tôi và mặt đại tá Tú. Với 10 triệu bạc, anh tha hồ tiêu xài.

Nhìn đồng hồ, Chu Nghị giật mình:

- Chết rồi. Đã 12 giờ trưa. Chúng ta chỉ còn một giờ nữa thôi. Phiền anh nói về tổ chức H-4

Lê Tùng nói:

- Sở H-4 trong Tổng nha Mật vụ chuyên về tài chính. Đúng ra, nó là H-4869, và chia làm 4 ban: ban H-4, ban H-8, và ban H-69. Ban H-69 phụ trách quản trị và kinh tài, ban H-8 phụ trách nghiên cứu kỹ thuât. Còn ban H-4 do tôi điều khiển, phụ trách chuyển ngân cho nhân viên ở hải ngoại.

- Anh được cử làm trưởng ban H-4 khi nào?

- Ngay sau khi Trần Hiệp thiệt mạng tại bờ sông Bến Hải. Tôi bị Văn Bình, đại diện ông Hoàng, khiển trách nặng nề. Tôi bị mất chức R. và giáng xuống làm trưởng ban H-4. Ban này gồm toàn nhân viên già, sắp đến tuổi hưu trí, và một số phụ nữ trông coi sổ sách.

- Nó được liệt vào hạng tối mật không?

- Trên nguyên tắc, mọi cơ quan trong tổng nha Mật vụ đều được coi là bí mật. Ban H-4 không có gì là bí mật cả.

- Tại sao trong văn phòng có đến 6 cái tủ sắt lớn?

- Để chứa hồ sơ chuyển ngân.

- Thể thức gửi tiền ra sao?

- Như anh đã biết, ông Hoàng có nhiều nhân viên rải rác trên khắp thế giới, đặc biệt tại Đông Nam Á. Số tiền hàng tháng gửi ra ngoại quốc lên tới hàng trăm triệu bạc Việt Nam. Thường thường, chúng tôi dùng đô la Mỹ làm bản vị. Tiền lương cho nhân viên ẩn tế đều được trả bằng mỹ kim.

Ông Hoàng có trương mục tại hầu hết các ngân hàng ở Sài Gòn, thường là ngân hàng do người ngoại quốc điều khiển. Vì vậy, chúng tôi không giao dịch với nhà băng Việt Nam như Công thương Ngân hàng, Việt nam Thương tín… vân vân. sợ nghiệp vụ tình báo bị bại lộ. Mặt khác khi cần chuyển tiền, chúng tôi giao dịch với các ngân hàng nhỏ.

- Chẳng hạn?

- Chi nhánh của Ngân hàng Vọng các, và Ngân hàng Đông kinh tại Sài Gòn.

- Ai ra lệnh chuyển ngân?

- Về lương tháng hoặc công tác phí của các trú sứ ở hải ngoại, thì ban H-69 phụ trách quản trị và kinh tài quyết định. Còn những món tiền đặc biệt phải do văn phòng riêng của ông Hoàng ra lệnh. Trên nguyên tắc cô Nguyên Hương, bí thư của ông Hoàng, gửi công văn xuống ban H-69 và ban này ra lệnh cho tôi làm chi phiếu. Tôi đích thân liên lạc với sở Hối đoái. Theo lệnh của phủ Thủ tướng, tất cả những nghiệp vụ chuyển ngân do tôi yêu cầu đều được thực hiện ngay, không cần điều tra. Chẳng hạn, H-69 yêu cầu tôi gửi 10.000 đô la qua Vọng các, tôi liền nhờ Ngân hàng Vọng các ở Sài Gòn làm trung gian, sau khi được sở Hối đoái cho phép.

- Cô Huệ Lan giữ phần hành gì trong H-4?

- Tiếp nhận công văn, và sửa soạn chi phiếu. Tôi đích thân ký vào chi phiếu và mang ra ngân hàng.

- Chúng ta đang tới điểm quan trọng nhất: anh đích thân ký chi phiếu trả tiền, tất phải biết tên người nhận tiền. Phiền anh cho biết những người này là ai?

- Tôi chỉ biết phần nào. Phần nhiều các chi phiếu đều để trống chỗ ghi tên người thụ hưởng. Chi phiếu được chuyển lên phòng cô Nguyễn Hương, và trên ấy sẽ điền tên người nhận vào.

- Anh nói là biết được một số. Lát nữa, xin anh viết lên giấy.

- Vâng. Tuy nhiên, tôi sợ anh không sử dụng được. Vì toàn thể đều là tên giả.

- Không sao. Chúng tôi đã có phương pháp phối kiểm. Trong thời gian anh tòng sự tại ban H-4, anh được lệnh thực hiện mấy vụ chuyển ngân đặc biệt?

- Ba vụ cả thảy. Mỗi vụ cách nhau chừng 4, 5 tuần lễ. Và mỗi vụ được gọi bằng tên riêng. Theo thứ tự, đó là vụ Thái Phiên, vụ Phan Đình Phùng và vụ Lê Quí Đôn.

- Chuyển ngân đi đâu?

- Vụ Thái Phiên chuyển ngân qua Vạn Tượng, Phan Đình Phùng qua Hồng kông, còn Lê Quí Đôn qua Nam Van.

- Gửi cho ai?

- Việc chuyển ngân được thực hiện theo thể thức như sau: tiền được chuyển cho tôi, dĩ nhiên tôi đội tên giả. Tôi thân chinh đến tận nơi, gặp giám đốc ngân hàng và nói là tôi ủy quyền cho một người khác. Khi nào người này mang giấy tờ căn cước đến, thì ngân hàng sẽ cho rút tiền ra.

- Ở Vạn Tượng, tên giả của anh là gì?

- Mita, quốc tịch Phi luật tân.

- Còn người được ủy quyền?

- Nêlô, cũng quốc tịch Phi luật tân. Y là nhân viên bí mật của ông Hoàng. Tôi không biết tên thật, cũng như tướng mạo của y. Tôi chỉ biết y từ nước ngoài đến Vạn Tượng bằng thông hành thật, đến nơi, y lại ngân hàng, xuất trình thông hành giả để lãnh tiền.

- Kẻ lãnh tiền ở Hồng Kông và Nam vang cũng là Nêlô hay là người khác?

- Thú thật với anh, tôi hoàn toàn không biết. Việc chuyển tiền ở Hồng Kông và Nam vang khác hơn. Tại đó, tôi đích thân lãnh tiền rồi mướn tủ sắt trong nhà băng, bỏ vào. Nhân viên bí mật của ông Hoàng đến sau, mở tủ sắt ra lấy tiền.

- Theo chỗ tôi biết, muốn thuê tủ sắt trong ngân hàng, phải làm đơn, kẽm chữ ký và ảnh. Về phần anh, không nói làm gì, song còn người kia? Y phải nộp ảnh cho ngân hàng, và như vậy ta chỉ cần phái người đến ngân hàng là phăng ra.

- Sự việc không quá giản dị như anh tưởng. Cả tôi lẫn người ấy đều không nộp ảnh mà chỉ lưu lại mẫu chữ ký, và giấy thông hành.

- Kẻ rút tiền tại Hồng Kông là ai?

- Sambái, quốc tịch Cao mien.

- Tại Nam vang?

- Phumê. quốc tịch Ai lao.

- Tại sao không gửi tiền bằng va li ngoại giao cho tòa đại sứ hoặc lãnh sự rồi giao cho giám đốc trú sứ thanh toán?

- Thể thức này rất nguy hiểm. Thứ nhất, ông Hoàng sợ giám đốc trú sứ tại Vạn Tượng, Hồng Kông và Nam Vang bị nhận diện mỗi khi đến lãnh tiền tại ngân hàng. Thứ hai, ông Hoàng không muốn giám đốc trú sứ biết mặt và truy ra tong tích của nhân viên bí mật. Thứ ba, chúng tôi không có đại diện ngoại giao, hoặc lãnh sự tại Nam Vang. Thứ tư, chúng tôi vửa trả tiền bằng đô la Mỹ, vừa bằng kim cương. Về tiền, có thể chuyển ngân được, nhưng còn kim cương, tôi phải đích thân mang đi.

- Anh giấu vào đâu?

- Tôi bỏ vào bót phơi, chẳng cần giấu. Vì lẽ tôi dùng thông hành ngoại giao.

- Những món tiền và hạt soàn ở Vạn Tượng, Hồng Kông, Nam Vang đã được lấy khỏi ngân hàng chưa?

- Tôi không biết. Vì tôi chỉ đến các nhà băng này một lần mà thôi. Lần sau, nếu cần chuyển ngân, tôi phải qua ngân hàng khác.

- Theo ý anh, Nê lô, Sam bát, Phu mê là ba người hay một người?

- Tôi không thể nào biết được. Tuy nhiên, tôi có cảm tưởng đó chỉ là một người.

- Và người này ở trong vùng cộng sản.

- Tôi cũng nghĩ như anh, song tôi không đưa ra được bằng cớ cụ thể nào.

- Nếu tôi không lầm, kẻ nhận tiền và hạt soàn là một nhân viên cao cấp ở Bắc Việt hoặc Trung Hoa. Tiền và hạt soàn được cất trong ngân hàng để khi nào y trốn đi, có thể rút ra sử dụng. Toàn thể các cơ quan tình báo trên thế giới đều theo thể thức trả tiền này. Song  còn vấn đề thông hành giả? Nếu y sinh sống ở Bắc Việt hoặc Trung Hoa, tôi không tin là y dám giữ thông hành giả trong người. Chẳng may bại lộ, y có thể bị tử hình.

- Tôi không hoàn toàn đồng ý với anh. Hầu hết nhân viên của ông Hoàng hoạt động tại phía Bắc vĩ tuyến 17 đều có ít nhất hai thông hành, thông hành thật do nhà chức trách địa phuong cấp, và thông hành giả do Sài Gòn làm ra. Khi gặp biến, đương sự sẽ dùng thông hành giả để vượt biên giới hoặc rút vào nơi an toàn.

- Anh đã chuyển ngân bao nhiên?

- Qua Vạn Tượng, 12.000 đô la. Hồng Kông, 15.000 đô la. Nam Vang, 18.000 đô la. Tổng cộng 45.000 đô la trong vòng 3 tháng.

- Anh tới Vạn Tượng ngày nào?

- Không nhớ rõ. Dường như vào thượng tuần tháng 8.

- Cố nhớ lại đi. Vì chúng tôi cần biết ngày tháng đích xác để phối kiểm lại.

Lê Tùng bóp trán suy nghĩ. Một tia sáng lóe ra trong óc, chàng bật lên.

- Nhớ ra rồi. Ngày 14-8. Bằng phi cơ hàng không Việt Nam.

- Ngụ tại khách sạn nào?

- Vieng Vila y, ở đường Nokeo Koumane.

- Ngày nào đến ngân hàng?

- Sàng 15. Đúng 8g30, tôi có mặt tại ngân hàng Đông Kinh. Tôi giả làm Mita, nhà báo Phi luật tân.

- Còn Nê lô?

- Y đội lốt thương gia.

- Ngày nào anh đến Hồng Kông?

- 4 tuần sau. Vào ngày 10-9. Ngụ tại lữ quán Vanda, số 3 đường College Road, 9 giờ sáng hôm sau, tôi đến ngân hàng Anh quốc. Tôi được ông Hoàng cho ở lại Hồng Kông 2 tuần rồi về Sài Gòn, sửa soạn qua Cao miên. Tôi có mặt ở Nam Vang ngày 4-10.

Chu Nghị đứng dậy:

- Cảm ơn anh. Tạm đủ rồi.

Lê Tùng hỏi:

- Mấy giờ mai chúng ta gặp nhau?

- Anh hỏi làm gì?

- Để hú hóa một đêm cho sướng.

- Hừ, chết anh cũng không chừa tật mê gái.

- Đàn bà đối với tôi là món ăn cần thiết. Cũng như mỗi đêm anh phải uống tách cà phê đen. Sáng mai, tôi dậy trưa được không?

- Sáng mai, có lẽ tôi không đến.

- Anh còn đợi lệnh Trung ương?

- Phải. Đợi nhân viên ở Trung ương nghiên cứu xong bản khai của anh.

- Và sau đó tôi vù.

- Dĩ nhiên. Nghe anh nói tôi thèm rệu nước miếng.

- Vậy anh móc nối với trú sứ CIA ở đây, kiếm chút tiền còm. Tôi tin rằng ít ra CIA phải trả anh một trăm ngàn mỹ kim.

- Tôi không ưa những kẻ nói bậy.

- Tính tôi lại khoái nói đùa.

Chu Nghị bước ra phòng ngoài. Hai vệ sĩ đã chực sẵn. Hắn dõng dạc:

- Các chú trông nom cho ông khách được đầy đủ tiện nghi. Cần gì phải lo liệu ngay. Tuy  nhiên, ông khách không được đi đâu hết. Cho phép các chú dùng sung nếu ông khách cứng đầu.

Lê Tùng vẫn ngồi điềm nhiên trong ghế, hai chân gác nghênh ngang lên bàn. Chàng không thèm quan tâm đến lời dặn hách dịch của Chu Nghị. Vì chàng đang nghĩ tới đàn bà.

Chú thích:

(I) – International Hotel, 33 đại lộ Cameron, Kowloon.

(2) Hongkong Jade Center.